Thành lập chi nhánh, phòng giao dịch, ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện mới gì?
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư 61/2025/TT-NHNN (Thông tư 61) quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại với nội dung đáng chú ý về các điều kiện và giới hạn cụ thể đối với việc thành lập chi nhánh, phòng giao dịch.
Quy định về thành lập chi nhánh
Thông tư 61 quy định rõ các điều kiện, tiêu chí và giới hạn về việc thành lập chi nhánh trong nước; đồng thời đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn đối với hoạt động mở rộng ra nước ngoài của ngân hàng thương mại.
Theo quy định, để được thành lập chi nhánh trong nước, ngân hàng thương mại phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về hiệu quả hoạt động, an toàn hệ thống và quản trị điều hành.
Đối với ngân hàng đã hoạt động từ 12 tháng trở lên, điều kiện tiên quyết là kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất và riêng lẻ đã được kiểm toán của năm liền kề trước năm đề nghị. Ngân hàng cũng phải tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước trong suốt 12 tháng liền trước thời điểm đề nghị.

Nhiều điểm mới về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại. Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, ngân hàng phải thực hiện đúng quy định về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; duy trì tỷ lệ nợ xấu không vượt quá 3% tại các thời điểm xác định theo quy định. Yêu cầu về tổ chức bộ máy cũng được đặt ra, bao gồm việc bảo đảm đầy đủ nhân sự Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, có hệ thống kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ phù hợp, đồng thời không bị khuyết Tổng Giám đốc tại thời điểm đề nghị.
Ngoài ra, ngân hàng không được bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến tổ chức, quản trị, điều hành hoặc cấp tín dụng trong 12 tháng liền trước; không thuộc diện bị áp dụng biện pháp hạn chế mở rộng mạng lưới; đồng thời phải đáp ứng các quy định về số lượng chi nhánh được phép thành lập theo Thông tư. Trường hợp đề nghị mở chi nhánh tại khu vực không phải vùng nông thôn, ngân hàng phải được xếp hạng A hoặc B theo kết quả xếp hạng gần nhất của Ngân hàng Nhà nước.
Với ngân hàng có thời gian hoạt động dưới 12 tháng, điều kiện được điều chỉnh phù hợp hơn nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc an toàn. Ngân hàng phải kinh doanh có lãi đến tháng liền kề trước thời điểm đề nghị; tuân thủ đầy đủ các hạn chế bảo đảm an toàn kể từ ngày khai trương hoạt động; thực hiện đúng quy định về phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro, với tỷ lệ nợ xấu không vượt quá mức cho phép. Đồng thời, ngân hàng không được bị xử phạt vi phạm hành chính kể từ khi đi vào hoạt động và vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về tổ chức bộ máy, giới hạn mở rộng mạng lưới và số lượng chi nhánh theo quy định chung.
Về quy mô mở rộng, Thông tư đặt ra các giới hạn cụ thể theo địa bàn và thời gian hoạt động của ngân hàng.
Theo đó, mỗi ngân hàng thương mại được thành lập tối đa 10 chi nhánh tại khu vực nội thành Hà Nội hoặc nội thành TP. Hồ Chí Minh. Ngân hàng hoạt động dưới 12 tháng chỉ được thành lập tối đa 3 chi nhánh trong một năm tài chính và các chi nhánh này không được đặt trên cùng một địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Đối với ngân hàng đã hoạt động từ 12 tháng trở lên, số chi nhánh được thành lập trong một năm tài chính không quá 5, trong đó ít nhất 50% số chi nhánh phải đặt tại vùng nông thôn. Trường hợp ngân hàng tự nguyện chấm dứt hoạt động chi nhánh tại khu vực nội thành Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh, ngân hàng được phép thành lập số chi nhánh tương ứng tại các địa bàn tỉnh, thành phố khác.
Việc thành lập chi nhánh ở nước ngoài hoặc ngân hàng con ở nước ngoài được quy định với các tiêu chí cao hơn. Ngoài việc đáp ứng các điều kiện về an toàn hoạt động, nợ xấu, quản trị và kỷ luật hành chính tương tự như trong nước, ngân hàng phải được xếp hạng A hoặc B theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng đề nghị mở rộng ra nước ngoài phải có thời gian hoạt động tối thiểu 3 năm; tổng tài sản có đạt từ 100.000 tỷ đồng trở lên theo báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của năm liền kề; đồng thời kinh doanh có lãi trong 3 năm liên tiếp trước năm đề nghị.
Tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, không được quá 20 phòng giao dịch
Đối với phòng giao dịch, ngân hàng thương mại phải đáp ứng các điều kiện tương tự như khi thành lập chi nhánh, bao gồm yêu cầu về hiệu quả kinh doanh, an toàn hoạt động, nợ xấu, tổ chức bộ máy và kỷ luật hành chính. Trường hợp phòng giao dịch dự kiến đặt tại khu vực không phải vùng nông thôn, ngân hàng cũng phải được xếp hạng A hoặc B.
Chi nhánh quản lý phòng giao dịch phải có thời gian hoạt động tối thiểu 12 tháng, duy trì tỷ lệ nợ xấu trong giới hạn cho phép, không bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền trong 12 tháng liền trước và có kết quả thu chi dương trong năm trước liền kề.
Về số lượng, tổng số phòng giao dịch tại khu vực nội thành Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh không vượt quá hai lần số chi nhánh hiện có của ngân hàng tại mỗi khu vực và không quá 20 phòng giao dịch. Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, số phòng giao dịch không vượt quá ba lần số chi nhánh hiện có.
Trong trường hợp số phòng giao dịch đã đạt hoặc vượt ngưỡng quy định trước thời điểm Thông tư có hiệu lực, ngân hàng vẫn được thành lập thêm không quá 2 phòng giao dịch tại vùng nông thôn trên mỗi địa bàn trong một năm tài chính, với tổng số không vượt quá số chi nhánh hiện có tại địa bàn đó. Ngoài ra, ngân hàng hoạt động từ 12 tháng trở lên chỉ được thành lập tối đa 10 phòng giao dịch mỗi năm, trong đó ít nhất 50% phải đặt tại vùng nông thôn.
Số lượng phòng giao dịch được quản lý bởi 01 chi nhánh do ngân hàng thương mại tự quyết định phù hợp với năng lực quản lý của mỗi chi nhánh.












