Thành phố Bắc Ninh tạo sinh kế, mở cơ hội giảm nghèo bền vững
Từ hỗ trợ con giống, vốn vay, đào tạo nghề đến đầu tư hạ tầng, các địa phương miền núi trên địa bàn thành phố Bắc Ninh đang chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo sinh kế, việc làm và nâng cao năng lực tự vươn lên của người dân.
Tạo sinh kế để giảm nghèo bền vững
Thực tiễn cho thấy, giảm nghèo không chỉ dừng ở việc hỗ trợ tiền hay con giống, mà quan trọng hơn là giúp người dân có tư liệu sản xuất, được trang bị kiến thức và có khả năng tạo thu nhập ổn định. Tại nhiều địa bàn miền núi của thành phố Bắc Ninh, cách tiếp cận này đang từng bước được cụ thể hóa bằng những mô hình phù hợp với điều kiện thực tế.
Tại xã Trường Sơn, địa phương miền núi có diện tích 77,5 km², dân số hơn 18,6 nghìn người với 10 dân tộc cùng sinh sống, việc lồng ghép các nguồn lực được xác định là giải pháp quan trọng để giảm nghèo. Cùng với đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xã tập trung đa dạng hóa sinh kế, hỗ trợ sản xuất, chuyển đổi nghề và tạo việc làm.
Theo ông Nguyễn Đăng Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn, thông qua các dự án hỗ trợ sinh kế và hướng dẫn kỹ thuật, người dân từng bước biết lựa chọn mô hình phù hợp, tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. Nhờ đó, đời sống được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm, đến hết năm 2025 còn 2,7%.
Một trong những mô hình tạo chuyển biến rõ nét là hỗ trợ chăn nuôi bò sinh sản cho hộ nghèo. Cuối năm 2024, gia đình anh Nguyễn Hữu Thanh, thôn Đồng Quần, được hỗ trợ một con bò sinh sản. Nhận thấy mô hình phù hợp với điều kiện gia đình, ít dịch bệnh, chi phí chăm sóc không quá cao, sau khi dự án kết thúc, gia đình tiếp tục vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội để mua thêm hai con bò nái.
Đến nay, đàn bò đã sinh được hai con bê, vừa tạo thêm tài sản, vừa mở ra nguồn thu cho gia đình. Từ một con giống được hỗ trợ ban đầu, kết hợp với nguồn vốn tín dụng ưu đãi và sự chủ động của người dân, sinh kế từng bước được hình thành và phát triển.
Tại xã Đồng Kỳ, giảm nghèo cũng được triển khai theo hướng phát huy nội lực. Các tổ chức hội, đoàn thể phát huy vai trò nhận ủy thác vốn vay, củng cố các tổ tiết kiệm và vay vốn, giúp người dân tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư sản xuất.
Đến nay, tổng dư nợ trên địa bàn xã đạt hơn 211 tỷ đồng với 2.274 khách hàng vay vốn. Trong đó, hộ nghèo và các đối tượng chính sách có 301 hộ, với dư nợ hơn 22,8 tỷ đồng. Cùng với vốn vay, xã khảo sát nhu cầu học nghề để tổ chức đào tạo phù hợp với sản xuất nông nghiệp và ngành nghề tại địa phương.

Cán bộ và người dân thôn Tuấn Sơn, xã Tuấn Đạo, TP Bắc Ninh trao đổi về đời sống và phát triển kinh tế tại địa phương. Ảnh Sơn Đông
Từ vốn và kiến thức được trang bị, nhiều mô hình kinh tế đã hình thành. Chị Nguyễn Thị Hải ở thôn Trại Nhì là một trường hợp tiêu biểu. Sau khi tham gia các lớp đào tạo nghề, chị liên kết với 11 hộ dân thành lập tổ hợp tác sản xuất, tiêu thụ ớt. Các thành viên được hỗ trợ giống, vật tư và kết nối bao tiêu sản phẩm, qua đó tạo nguồn thu ổn định hơn.
Những mô hình này cho thấy, hỗ trợ sinh kế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong một chuỗi liên kết gồm vốn, kỹ thuật, đào tạo nghề, sản xuất và thị trường. Khi người dân được trao điều kiện và kiến thức để tự tổ chức cuộc sống, chính sách giảm nghèo mới tạo ra giá trị lâu dài.
Thêm cơ hội để giảm nghèo bền vững
Trên địa bàn thành phố Bắc Ninh hiện có 29 xã và 1 phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 321 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, 329 thôn thuộc vùng miền núi và 109 thôn đặc biệt khó khăn. Đây là những địa bàn cần tiếp tục được ưu tiên nguồn lực để đầu tư hạ tầng, phát triển sản xuất, đào tạo nghề và tạo việc làm.
Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2026-2030, toàn thành phố có hơn 7,7 nghìn hộ nghèo, chiếm 0,91%; hơn 13,5 nghìn hộ cận nghèo, chiếm 1,58%. Hộ nghèo tập trung chủ yếu tại khu vực miền núi, các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ giảm số hộ nghèo mà còn phải củng cố sinh kế, nâng cao khả năng chống chịu trước những rủi ro có thể khiến người dân tái nghèo.
Năm 2026, HĐND thành phố phân bổ hơn 505 tỷ đồng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nguồn lực được ưu tiên cho giao thông, thương mại - dịch vụ, đào tạo nhân lực và các mô hình hỗ trợ sinh kế tại địa bàn khó khăn.
Nhằm tiếp tục nâng cao đời sống người dân khu vực miền núi, vùng cao, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nay là thành phố ban hành Chương trình số 22-CT/TU về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030, với tổng nguồn lực dự kiến khoảng 25 nghìn tỷ đồng. Trong đó, ngân sách thành phố dự kiến 16,5 nghìn tỷ đồng; còn lại là nguồn xã hội hóa, vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội và sự đóng góp của Nhân dân.
Chương trình đặt mục tiêu giảm bình quân 1,5% tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; kiểm soát nguy cơ tái nghèo. Đến năm 2030, thu nhập bình quân của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu gấp 2 lần năm 2025, cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Người dân thôn Đá Bờ, xã Tuấn Đạo tăng thu nhập nhờ nuôi ong dưới tán rừng. Ảnh Sơn Đông
Để nguồn lực đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả, vai trò của các tổ chức đoàn thể ngày càng rõ nét. Từ đầu năm đến nay, các cấp Hội Phụ nữ trên địa bàn thành phố đã đăng ký giúp 1.385 hộ nghèo, cận nghèo do phụ nữ làm chủ hộ vươn lên. Các cấp Hội hỗ trợ 184 mô hình sinh kế với tổng trị giá gần 2 tỷ đồng; giúp thành lập 7 hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ liên kết với 69 thành viên; tổ chức 202 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hơn 22 nghìn hội viên, phụ nữ; đồng thời đào tạo nghề, kết nối việc làm cho hàng nghìn lao động.
Theo ông Bùi Quang Phát, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, vấn đề quan trọng trong hỗ trợ sinh kế không chỉ là trao con giống hay vốn mà phải làm sao để nguồn lực đó tạo ra dòng thu nhập ổn định, giúp hộ nghèo có khả năng tái đầu tư và đủ sức ứng phó khi gặp rủi ro.
Đây cũng là hướng đi có ý nghĩa đối với công tác giảm nghèo trong giai đoạn mới. Khi đầu tư hạ tầng được gắn với phát triển sản xuất; vốn vay đi cùng đào tạo nghề; hỗ trợ sinh kế gắn với kỹ thuật và thị trường, người dân sẽ có thêm điều kiện làm chủ sinh kế của chính mình.
Giảm nghèo vì thế không còn đơn thuần là giảm một con số trong thống kê, mà hướng tới tạo dựng năng lực để người dân tự vươn lên, có việc làm, có thu nhập và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây là nền tảng để thành phố Bắc Ninh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, nhất là tại những địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn.

