Thành phố Hồ Chí Minh khai thác dữ liệu sức khỏe để nhận diện nguy cơ bệnh tật
Với hơn 6 triệu lượt khám sức khỏe toàn dân, Thành phố Hồ Chí Minh đã bước đầu khai thác dữ liệu để nhận diện những vấn đề sức khỏe theo nhóm tuổi và phân tầng nguy cơ mắc bệnh trong cộng đồng.

Người cao tuổi tại phường Vũng Tàu đến địa điểm khám sức khỏe. (Ảnh: CTV)
Kết quả phân tích là cơ sở để ngành y tế xác định các nhóm cần ưu tiên can thiệp, tổ chức hoạt động dự phòng và từng bước đưa dữ liệu sức khỏe vào công tác quản lý, chăm sóc người dân tại tuyến y tế cơ sở.
Nhận diện những vấn đề sức khỏe
Theo Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến buổi sáng 10/10, chương trình khám sức khỏe toàn dân ghi nhận 6.005.268 lượt khám, hơn 5,37 triệu người dân đã có hồ sơ sức khỏe điện tử. Từ nguồn dữ liệu được số hóa và tích hợp, ngành y tế bước đầu phân tích những vấn đề sức khỏe nổi bật theo nhóm tuổi, đồng thời xác định một số nhóm có nguy cơ mắc bệnh để định hướng hoạt động dự phòng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Tăng Chí Thượng, Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, việc khai thác nguồn dữ liệu khám sức khỏe quy mô lớn giúp ngành y tế có thêm căn cứ nhận diện mô hình bệnh tật, phân tầng nguy cơ sức khỏe trong cộng đồng. Thay vì chỉ thống kê số người được khám và các bệnh lý phát hiện, ngành y tế có thể sử dụng kết quả phân tích để xác định những nhóm dân cư cần được theo dõi, tư vấn và chăm sóc phù hợp.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh tổ chức khám sức khỏe cho người dân xã Long Hải. (Ảnh: CTV)
Kết quả phân tích ghi nhận sự khác biệt về các vấn đề sức khỏe giữa những nhóm tuổi. Ở nhóm từ 6 đến dưới 18 tuổi, các vấn đề về thị lực và răng miệng chiếm tỷ lệ đáng chú ý. Trong 388.793 lượt ghi nhận của nhóm tuổi này, tật khúc xạ chiếm hơn 48% và sâu răng chiếm 34%. Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong hoạt động sàng lọc và chăm sóc sức khỏe trường học.
Đối với nhóm từ 18 đến dưới 60 tuổi, dữ liệu ghi nhận các bệnh không lây nhiễm bên cạnh những vấn đề về mắt và răng miệng. Trong tổng số 1,4 triệu lượt ghi nhận, tăng huyết áp chiếm 6,7%, đái tháo đường típ 2 chiếm 1,6% và rối loạn lipid máu chiếm 1,6%.
Ở nhóm từ 60 tuổi trở lên, các bệnh mạn tính được ghi nhận với tỷ lệ cao hơn. Trong 812.377 lượt ghi nhận, tăng huyết áp chiếm hơn 16%, đái tháo đường type 2 chiếm 5,5% và đục thủy tinh thể do tuổi già chiếm 5,4%. Kết quả này đặt ra yêu cầu chú trọng quản lý bệnh mạn tính, theo dõi sức khỏe định kỳ và tổ chức chăm sóc liên tục cho người cao tuổi.

Bệnh viện Thống Nhất tổ chức khám sức khỏe tại nhà cho người cao tuổi. (Ảnh: CTV)
Sở Y tế lưu ý, những tỷ lệ trên được tính trong dữ liệu khám sức khỏe của từng nhóm tuổi, chưa đại diện cho tỷ lệ mắc bệnh của toàn bộ dân số Thành phố. Tuy nhiên, với phân tích này đã cung cấp thông tin ban đầu để ngành y tế xem xét nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở từng giai đoạn cuộc đời, từ sức khỏe học đường đến quản lý bệnh mạn tính ở người cao tuổi.
Bước đầu phân tầng nguy cơ bệnh tật
Bên cạnh thống kê những bệnh lý được ghi nhận, ngành y tế đã bước đầu sử dụng dữ liệu khám sức khỏe để phân tầng nguy cơ tim mạch, bệnh thận mạn và đái tháo đường.
Đối với nguy cơ tim mạch, ngành y tế sử dụng thông tin lâm sàng, bệnh sử và các chỉ số sức khỏe phù hợp, trong đó có áp dụng mô hình đánh giá nguy cơ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Trong số hồ sơ người trên 40 tuổi đủ điều kiện phân tầng, hơn 30% được xếp vào nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao gồm 14,7% nguy cơ cao và 16% nhóm nguy cơ rất cao.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Tăng Chí Thượng, Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: KHANG ANH)
Đối với bệnh thận mạn, việc đánh giá kết hợp tuổi, mức lọc cầu thận ước tính và kết quả protein niệu. Trong số hồ sơ đủ điều kiện phân tích, 6,2% thuộc nhóm nghi ngờ mắc bệnh thận, trong khi 12,3% chưa ghi nhận bệnh nhưng có yếu tố nguy cơ.
Ở nhóm nguy cơ đái tháo đường, ngành y tế phân tích kết quả đường huyết lúc đói của người trưởng thành chưa có tiền sử được chẩn đoán mắc bệnh. Kết quả ghi nhận 19% hồ sơ thuộc ngưỡng tiền đái tháo đường và hơn 10% có kết quả xét nghiệm đạt ngưỡng gợi ý chẩn đoán đái tháo đường.
Các kết quả phân tích giúp cơ sở y tế xác định những trường hợp cần được ưu tiên tư vấn, theo dõi, xét nghiệm bổ sung hoặc chuyển đến cơ sở chuyên môn để đánh giá. Sở Y tế nhấn mạnh, các tỷ lệ phân tầng được tính trên những hồ sơ đáp ứng điều kiện phân tích của từng nhóm nguy cơ, không phải trên toàn bộ người dân đã tham gia khám sức khỏe. Kết quả phân tầng nguy cơ là công cụ hỗ trợ sàng lọc và quản lý sức khỏe, không thay thế chẩn đoán xác định của bác sĩ.

Lãnh đạo Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh biểu dương các địa phương dẫn đầu thực hiện chương trình khám sức khỏe toàn dân. (Ảnh: KHANG ANH)
Theo Giám đốc Sở Y tế Tăng Chí Thượng, nhiệm vụ tiếp theo của chương trình khám sức khỏe toàn dân là khai thác dữ liệu để xác định những vấn đề sức khỏe cần ưu tiên, nhóm dân cư cần được chăm sóc và địa bàn cần tăng cường hoạt động dự phòng.
Thông qua hồ sơ sức khỏe điện tử, kết quả khám và thông tin phân tầng nguy cơ sẽ từng bước được sử dụng để hỗ trợ trạm y tế theo dõi sức khỏe người dân, quản lý bệnh không lây nhiễm, tư vấn dự phòng và kết nối với bệnh viện khi cần thiết.
Sở Y tế đang tiếp tục phát triển hệ thống bảng điều khiển phân tích dữ liệu sức khỏe để theo dõi mô hình bệnh tật, phân bố nguy cơ theo nhóm tuổi và địa bàn, phục vụ xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp.
Cùng với việc phát triển công cụ phân tích, ngành y tế tập trung chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện liên thông thông tin giữa các cơ sở khám, chữa bệnh và bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu sức khỏe cá nhân.
Các chuyên gia phân tích dữ liệu của Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh và các bệnh viện đầu ngành đã tham gia hỗ trợ khai thác nguồn dữ liệu khám sức khỏe.
Trong thời gian tới, ngành y tế tiếp tục phối hợp với các chuyên gia, cơ sở đào tạo và bệnh viện để hoàn thiện phương pháp phân tích, kiểm chứng kết quả và phát triển công cụ phân tầng nguy cơ.
Với cột mốc vượt 6 triệu lượt khám sức khỏe vào đúng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10 mở ra giai đoạn tiếp theo của chương trình với trọng tâm là nâng cao chất lượng dữ liệu, xác định những trường hợp có nguy cơ và từng bước đưa kết quả phân tích vào hoạt động theo dõi, tư vấn dự phòng, quản lý bệnh tại trạm y tế.

