Thành phố thông minh không chỉ đo bằng số camera hay màn hình lắp đặt
Theo các chuyên gia, người dân không đánh giá mức độ thông minh của một thành phố qua số lượng camera hay màn hình được lắp đặt, mà qua những thay đổi cụ thể trong đời sống như giao thông thông thoáng, giảm ngập úng và thủ tục hành chính thuận tiện.
Thách thức đô thị từ ùn tắc, ngập úng, ô nhiễm
Ngày 6/11, tại Hà Nội, Bộ Xây dựng phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổ chức Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị Việt Nam 2026 với chủ đề “Mô hình phát triển đô thị đóng góp cho tăng trưởng quốc gia”.
Phát biểu tại diễn đàn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết, sau 40 năm đổi mới, quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Cả nước hiện có 910 đô thị, gồm 2 đô thị loại đặc biệt, 7 đô thị loại I và 901 đô thị loại II, III. Tỷ lệ đô thị hóa đạt 53,3%, diện tích sàn nhà ở bình quân tại đô thị vượt 30m2/người.
Mạng lưới đô thị từng bước hình thành, trong đó các đô thị lớn giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo. Các đô thị vừa và nhỏ đảm nhiệm chức năng kết nối, cung cấp dịch vụ cho những địa bàn lân cận.
Tuy nhiên, ông Tuấn cho rằng cần thẳng thắn nhìn nhận quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Kết cấu hạ tầng tại nhiều nơi thiếu đồng bộ; ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường, thiếu không gian xanh và quá tải hạ tầng vẫn là những vấn đề nổi cộm.

Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị Việt Nam 2026, ngày 6/11. Ảnh: BTC
Hiệu quả tái thiết đô thị chưa cao, trong khi cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực còn bất cập. Bên cạnh đó, tiềm năng của hệ thống đô thị ven biển chưa được khai thác tương xứng. Mối liên kết giữa đô thị với cảng biển, khu kinh tế và trung tâm logistics còn hạn chế, năng lực cạnh tranh của nhiều trung tâm kinh tế biển chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn, mô hình phát triển đô thị trên thế giới đang trải qua những chuyển đổi căn bản. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, giá trị của một đô thị không chỉ nằm ở quy mô diện tích, dân số hay số lượng công trình được xây dựng.
Quan trọng hơn là chất lượng quy hoạch, hiệu quả quản trị, năng suất sử dụng các nguồn lực và khả năng tạo dựng môi trường sống, làm việc thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Nhìn từ thực tiễn Hà Nội và TPHCM, Thứ trưởng nhấn mạnh, đổi mới mô hình phát triển đô thị không chỉ là thay đổi cấu trúc không gian mà quan trọng hơn là tổ chức lại các hoạt động kinh tế, khai thác hiệu quả lợi thế mới, nâng cao năng suất và tạo ra những động lực tăng trưởng có sức lan tỏa.
Thực tế, tại nhiều địa phương, tăng trưởng đô thị vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng không gian, khai thác đất đai và đầu tư xây dựng. Cách tiếp cận này chưa tạo ra hiệu quả tương xứng trong sử dụng tài nguyên, trong khi những bất cập về hạ tầng như ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường và trong quản trị đô thị vẫn chưa được giải quyết triệt để.
“Vấn đề đặt ra không chỉ là phát triển thêm bao nhiêu đô thị, mở rộng bao nhiêu không gian hay đầu tư thêm bao nhiêu công trình, mà quan trọng hơn là mỗi đô thị sẽ tạo ra những giá trị mới gì, đóng góp như thế nào vào năng suất, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng sống của người dân”, Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn lưu ý.
Thành phố thông minh không chỉ đo bằng số camera
Một trong những nội dung được trao đổi tại diễn đàn là quản trị đô thị thông minh dựa trên dữ liệu. Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành, phân bổ nguồn lực và giải quyết những vấn đề đô thị ngày càng phức tạp.
Ông Kiều Việt Cường, Quyền Trưởng đại diện UN-Habitat Việt Nam, cho rằng khi cơ sở dữ liệu và các nền tảng dùng chung từng bước được hình thành, vấn đề quan trọng không còn chỉ là thu thập dữ liệu mà phải biết cách khai thác chúng.
Dữ liệu cần nhận diện đúng nhu cầu, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư, phối hợp cung cấp dịch vụ và đánh giá kết quả thực hiện. Việc sử dụng dữ liệu phải gắn với mục tiêu cụ thể, quy trình xem xét phương án, trách nhiệm thực hiện và khả năng điều chỉnh theo kết quả thực tế.
Đặc biệt, công nghệ phải đồng hành với quá trình tổ chức thực hiện, lấy con người làm trung tâm. Hiệu quả của đô thị thông minh không chỉ được đánh giá bằng mức cải thiện chung mà còn phải xem xét lợi ích được phân bổ như thế nào giữa các địa bàn, nhóm cư dân, nhất là những cộng đồng yếu thế.
Từ góc nhìn doanh nghiệp công nghệ, ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Quan hệ Chính phủ Huawei Việt Nam, đánh giá hạ tầng kết nối của Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, theo ông, người dân đô thị vẫn chưa cảm nhận được những tiện ích tương xứng của một thành phố "thông minh" trong đời sống hàng ngày.
Ông Tuấn cho hay người dân không đánh giá mức độ thông minh của thành phố bằng số lượng camera hay màn hình được lắp đặt, mà bằng những trải nghiệm cụ thể như tình trạng ùn tắc, ngập úng hay thủ tục hành chính kéo dài.
Một đô thị chỉ thực sự thông minh khi có đủ ba năng lực nền tảng, được xây dựng như một hệ thống thống nhất, gồm hạ tầng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI).
Trong đó, hạ tầng số dùng chung là điều kiện để triển khai các ứng dụng thông minh trên quy mô lớn. Với dữ liệu, giá trị không được quyết định ở việc "có nhiều dữ liệu" mà ở khả năng liên kết, chia sẻ và khai thác dữ liệu.


