Tháo gỡ các điểm nghẽn, hướng tới phát triển bền vững ngành sữa
Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam đặt mục tiêu tự chủ nguồn cung và nâng cao sức cạnh tranh, đưa các giải pháp từ quy hoạch vùng nguyên liệu đến minh bạch hóa thị trường vào thực tiễn...

Nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu. Ảnh minh hoạ.
Tại hội thảo phổ biến “Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài đánh giá ngành sữa đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo đảm an ninh dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe cộng đồng và tạo chuỗi liên kết chặt chẽ với các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, chế biến, thương mại, dịch vụ. Theo Thứ trưởng Trương Thanh Hoài, những năm qua ngành sữa dù đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng bức tranh toàn cảnh của ngành vẫn cho thấy tồn tại những điểm yếu và hạn chế lớn cần sớm giải quyết.
NHIỀU DƯ ĐỊA NHƯNG ĐỐI MẶT VỚI HÀNG LOẠT ĐIỂM NGHẼN
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu sản xuất. Bên cạnh đó, ngành sữa đang phải đối mặt với áp lực chi phí sản xuất tăng cao, hệ thống logistics chưa tối ưu, sự liên kết chuỗi giá trị còn yếu và năng lực đổi mới công nghệ cũng như sức cạnh tranh toàn ngành chưa đồng đều.
Theo ông Tống Xuân Chinh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam, khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ và các hợp tác xã đang gặp nhiều yếu tố bất lợi. Nếu thiếu các chính sách hỗ trợ kịp thời về con giống, giải pháp trồng cỏ, chế biến phụ phẩm, khu vực này sẽ rất khó cạnh tranh với các doanh nghiệp sở hữu chuỗi sản xuất khép kín quy mô lớn.
Trong khi đó, ở góc độ doanh nghiệp, đại diện Tập đoàn TH true MILK cho biết đơn vị đang sở hữu đàn bò khoảng 80.000 con và định hướng nâng quy mô lên 150.000 con trong những năm tới. Tuy nhiên, bài toán mở rộng quy mô chăn nuôi tập trung đang vấp phải rào cản lớn về quỹ đất để trồng cỏ và chủ động nguồn thức ăn.

Hội thảo phổ biến “Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Ảnh: Báo Công Thương.
Mặt khác, công tác quản lý thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức. Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho biết trong giai đoạn từ năm 2025 đến hết quý 1/2026, lực lượng quản lý thị trường đã xử lý gần 200 vụ việc vi phạm liên quan đến mặt hàng sữa, phạt hành chính hơn 1,8 tỷ đồng và tịch thu hàng hóa vi phạm trị giá hơn 1,7 tỷ đồng. Các hành vi vi phạm phổ biến gồm: kinh doanh hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc, vi phạm nhãn hàng hóa và giá niêm yết.
Đáng chú ý, các gian lận thương mại, quảng cáo gây hiểu nhầm về bản chất và công dụng sản phẩm đang có xu hướng gia tăng trên nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và hoạt động livestream.
ĐỒNG BỘ GIẢI PHÁP TỪ VÙNG NGUYÊN LIỆU, CÔNG NGHỆ ĐẾN KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG
Để giải quyết triệt để các tồn tại và thực hiện hóa các mục tiêu chiến lược, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài nhấn mạnh việc tăng khả năng tự chủ nguồn nguyên liệu nội địa là yếu tố quyết định. Ngành sữa không thể chỉ tập trung vào một khâu riêng lẻ mà phải nhìn nhận tổng thể cả chuỗi giá trị từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu thụ. Các mắt xích phải gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau để tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, cho rằng tinh thần xuyên suốt của Chiến lược là gắn kết, tăng tính tự chủ và bền vững.
Theo đó, bốn mục tiêu trọng tâm cần triển khai đồng bộ, gồm: tăng đàn và năng suất chăn nuôi; phát triển nguồn nguyên liệu trong nước và tăng tỷ trọng sữa tươi nội địa; đẩy mạnh chế biến tạo giá trị gia tăng, đa dạng hóa sản phẩm; mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước lẫn xuất khẩu. Việc hiện đại hóa công nghệ chế biến, bảo quản và nâng cao quy mô, năng lực của doanh nghiệp phải diễn ra nhịp nhàng với phát triển vùng chăn nuôi.
Về chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, đại diện TH true MILK kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành xem xét phương án cho phép chuyển đổi những diện tích đất nông nghiệp hiệu quả thấp sang mô hình trồng cỏ chăn nuôi, giúp doanh nghiệp chủ động nguồn thức ăn và mở rộng đàn bò.
Đồng thời, ông Chinh đề xuất cần có chính sách đặc thù giúp các hộ chăn nuôi nhỏ và hợp tác xã tham gia sâu vào chuỗi giá trị, qua đó góp phần đưa tỷ lệ sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt mức 60% trở lên vào năm 2030.
Về mặt công nghệ và quy chuẩn, ông Nguyễn Việt Tấn, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, cho biết cơ quan chức năng đang nghiên cứu sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sữa dạng lỏng. Song song đó là thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ chế biến tiên tiến, sản xuất sạch hơn, ứng dụng công nghệ số và hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Ở khâu phân phối và quản lý thị trường, lực lượng quản lý thị trường cam kết tăng cường theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả và hoạt động kinh doanh trên môi trường số, đẩy mạnh kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng.
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài khẳng định Bộ Công Thương sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương và Hiệp hội Sữa Việt Nam để cụ thể hóa các mục tiêu thành nhiệm vụ sát thực tiễn. Phát triển thị trường phải luôn đi đôi với kiểm soát chất lượng, minh bạch thông tin và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, giúp ngành sữa Việt Nam vươn lên phát triển toàn diện và bền vững.
