Khung pháp lý đủ mạnh lực đẩy cho công nghiệp hỗ trợ tự chủ
Những điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện vẫn tập trung ở quy mô nhỏ, năng lực phân tán; khoảng cách về công nghệ, vốn, nhân lực, thử nghiệm và chứng nhận còn khá lớn… Do đó, sớm nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh để Việt Nam tăng trưởng hai con số, tiến tới một nền công nghiệp tự chủ, hiện đại.

Ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch HANSIBA, Chủ tịch Tập đoàn N&G Việt Nam tại Hội thảo khoa học về định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Ảnh: Hoàng Anh
Điểm nghẽn lớn cần chính sách đủ mạnh
Giai đoạn 2026-2031 là bản lề để Việt Nam hướng tới mục tiêu năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Các Nghị quyết 57-NQ/TW, 68-NQ/TW, 10-NQ/TW… về khoa học công nghệ, kinh tế tư nhân, FDI, không gian phát triển và kinh tế biển cần được cộng đồng doanh nghiệp coi là căn cứ trực tiếp để xây dựng chiến lược đầu tư, công nghệ, nhân lực, thị trường và chuỗi cung ứng.
Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam muốn tăng trưởng hai con số bền vững thì phần giá trị do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra trong mỗi sản phẩm phải tăng như thế nào?

Trong dây chuyền sản xuất tại nhà máy của ANMI TOOLS. Ảnh: Khắc Kiên
Theo ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch HANSIBA, Chủ tịch Tập đoàn N&G Việt Nam, có ba điểm nghẽn chính: Doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ và phân tán; Khoảng cách về công nghệ, vốn, nhân lực, thử nghiệm và chứng chỉ còn lớn. Đặc biệt là thiếu “thị trường đầu tiên”–đầu tư xong thì ai mua, tiêu chuẩn nào, thử mẫu ra sao và khi nào có đơn hàng.

Chuyên gia đến tìm hiểu tại nhà máy TOMECO An Khang tại Hà Nội. Ảnh: Khắc Kiên
Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp hỗ trợ là rất quan trọng. Nếu trước mắt chỉ tích hợp trong Luật Công nghiệp trọng điểm thì CNHT phải có một chương riêng đủ mạnh, không chỉ là một nhóm ưu đãi. Đơn cử, tại Hàn Quốc có luật chuyên biệt về vật liệu, linh kiện và thiết bị; Nhật Bản luật hóa sâu quan hệ giữa bên đặt hàng và nhà cung cấp nhỏ; Trung Quốc dùng luật doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng chính sách công nghiệp để nâng doanh nghiệp chuyên sâu... Từ đó cho thấy, bài học chung là chính sách phải đủ cao, dài hạn và gắn trực tiếp với chuỗi cung ứng.
Thứ hai, Chương trình phát triển 5.000 doanh nghiệp CNHT Việt Nam có năng lực thực chất đến năm 2035 chứ không đếm số lượng trên giấy. Mỗi doanh nghiệp phải có hồ sơ năng lực, thiết bị, chứng chỉ, công suất, lộ trình công nghệ và được kết nối với một khách hàng, một chuỗi cung ứng, một mục tiêu sản phẩm cụ thể.
Thứ ba, chuyển từ “xúc tiến kết nối” sang “phát triển nhà cung cấp”. giải pháp với các dự án lớn và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), ngay từ đầu cần có danh mục sản phẩm có thể mua trong nước, tiêu chuẩn, chương trình thử mẫu và lộ trình nâng tỷ lệ mua hàng Việt Nam. Chất lượng FDI cần được đo thêm bằng số nhà cung cấp Việt Nam được nâng cấp và giá trị mua hàng ở Việt Nam...
Hướng tới một nền công nghiệp tự chủ, hiện đại
Một nội dung mới chính là “Công nghiệp hỗ trợ cho phát triển không gian quốc gia”. Chính sách phải chuẩn bị năng lực sản xuất cho mặt đất và lòng đất–metro, công trình ngầm, khai khoáng sâu; cho không gian biển–đóng tàu, thiết bị biển, điện gió ngoài khơi; cho không gian tầm thấp–thiết bị bay không người lái; cho hàng không và tiến tới vệ tinh, vũ trụ. Đây cũng là các lĩnh vực có nền tảng công nghệ lưỡng dụng dân sinh–quốc phòng rất rõ.

Công nghiệp hỗ trợ cần trợ lực để phát triển. Ảnh: Khắc Kiên
Để biến định hướng thành năng lực thực, đề nghị hình thành các Tổ hợp công nghiệp công nghệ (Techno Park) ở 3 miền Bắc–Trung–Nam của Việt Nam nhưng không phát triển thành ba “ốc đảo”. Cần gắn doanh nghiệp Việt Nam với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Mỹ, Nga và các đối tác có thế mạnh.
Các Tổ hợp công nghiệp công nghệ phải liên thông bằng bản đồ năng lực cung ứng quốc gia, dữ liệu doanh nghiệp, tiêu chuẩn và đơn hàng; Nhà nước hỗ trợ hạ tầng dùng chung, nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, chứng nhận và đào tạo; doanh nghiệp chịu trách nhiệm đầu tư sản xuất và cạnh tranh.
Tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội (HANSSIP) do Tập đoàn N&G Việt Nam phát triển, mô hình Tổ hợp công nghiệp công nghệ Việt Nam–Nhật Bản đã và đang được hình thành là một ví dụ.
Khi triển khai, các chuyên gia Nhật Bản mở lớp đào tạo chuỗi sản xuất linh kiện phục vụ ngành hàng không vũ trụ và tàu cao tốc. Hiện đã cấp chứng chỉ AS9100D hoàn thành chương trình đào tạo và đang chuẩn bị được cấp chứng chỉ cho nhiều doanh nghiệp... là những minh chứng cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh và cần có Luật để thúc đẩy phát triển.
Cuối cùng, mọi chính sách phải quản trị bằng chỉ số đánh giá kết quả (KPI): Bao nhiêu doanh nghiệp đạt chuẩn quốc tế, trở thành nhà cung cấp cấp 1/cấp 2 (Tier 1/Tier 2), giá trị mua hàng trong nước tăng bao nhiêu, các sản phẩm thay thế nhập khẩu và vượt thử nghiệm, chứng nhận. Cần đo kết quả ở nhà máy và trong hợp đồng, không chỉ đo số chương trình hỗ trợ.
Việt Nam không thể trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng việc có nhiều nhà máy đặt trên lãnh thổ Việt Nam. Điều quan trọng là ngày càng nhiều phần giá trị của sản phẩm được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và làm chủ bởi doanh nghiệp Việt Nam.
Nếu có Luật Công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh, một chương trình, cơ chế phát triển doanh nghiệp thực chất, CNHT có thể trở thành một động lực quan trọng để Việt Nam tăng trưởng hai con số và tiến tới một nền công nghiệp tự chủ, hiện đại.
