Tháo gỡ 'điểm nghẽn' để ngành chăn nuôi phát triển bền vững
Nguồn cung trong nước dồi dào, sức mua chưa phục hồi rõ rệt, trong khi thịt nhập khẩu có giá cạnh tranh và chi phí thức ăn chăn nuôi liên tục tăng đang tạo sức ép lớn lên người chăn nuôi. Bài toán đặt ra với ngành chăn nuôi không chỉ là điều tiết quy mô đàn mà còn phải giảm giá thành, nâng chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Thịt nhập khẩu gia tăng, cạnh tranh ngày càng rõ
Theo số liệu ước tính, tháng 9-2026, giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt khoảng 430,8 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu 9 tháng năm 2026 lên 4 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 1,18 tỷ USD, tăng 11,2%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,6 tỷ USD, tăng 12,7%.
Đáng chú ý, Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 20,39% tổng lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập khẩu. Lượng nhập khẩu đạt 134,2 nghìn tấn, trị giá 580,8 triệu USD, tăng 17% về lượng và 43,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Tổng giá trị nhập khẩu chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi 9 tháng năm 2026 lên 4 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: PV
Ở nhóm thịt lợn, theo số liệu của Cục Hải quan, giá nhập khẩu bình quân thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh trong 8 tháng đầu năm 2026 đạt 1.712 USD/tấn, giảm 35,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 19 thị trường, trong đó Bra-xin chiếm 45,1% tổng lượng, tiếp đến là Nga 21,24%, Tây Ban Nha 19,87%, Đức 4,58% và các thị trường khác 9,21%. Cơ cấu thịt nhập khẩu cũng cho thấy sự cạnh tranh khá đa dạng.
Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm chiếm 36,33% về lượng; thịt trâu đông lạnh chiếm 18,9%; thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 18,85%; phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò chiếm 15,22%; thịt bò tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 5,81%.
Trong khi đó, thị trường trong nước chưa có dấu hiệu khởi sắc rõ rệt. Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam, tháng 9-2026, giá lợn hơi tại cả ba miền đều giảm khoảng 1.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá dao động 57.000-59.000 đồng/kg; miền Trung - Tây Nguyên 56.000-58.000 đồng/kg và miền Nam 56.000-58.000 đồng/kg. Nguồn cung tăng trong khi nhu cầu tiêu thụ chưa cải thiện rõ rệt khiến giá lợn hơi chịu sức ép giảm.
Không chỉ thịt lợn, thị trường gia cầm cũng diễn biến trái chiều. Giá gà thịt lông màu tại miền Bắc tăng lên 69.000 đồng/kg, trong khi miền Trung giảm còn 43.000 đồng/kg và miền Nam còn 45.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Bắc giảm xuống 32.000 đồng/kg; miền Trung và miền Nam tăng lên 27.000 đồng/kg. Dự báo từ nay đến cuối năm, giá gà có thể phục hồi khi nhu cầu tiêu thụ tăng vào dịp lễ, Tết.

Giá gia cầm giảm mạnh. Ảnh: PV
Theo Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Xuân Dương, điều đáng lưu ý là dù nguồn cung trong nước có dấu hiệu dư thừa, thịt nhập khẩu vẫn tìm được đầu ra ở nhiều kênh tiêu thụ và được thị trường đón nhận.
Chăn nuôi trong nước hiện không chỉ chịu áp lực về tiêu thụ mà còn phải cạnh tranh với các sản phẩm gia cầm đông lạnh nhập khẩu, chủ yếu là đùi và cánh gà, có giá thấp. Giá các sản phẩm này thường thấp hơn khoảng 30-40% so với giá gà tươi xuất chuồng, tạo sức ép lớn đối với người chăn nuôi.
Giảm giá thành, mở thêm thị trường cho sản phẩm trong nước
Nếu thịt nhập khẩu tạo sức ép từ phía thị trường thì chi phí thức ăn đang tiếp tục làm gia tăng áp lực từ phía sản xuất. Từ đầu tháng 9-2026 đến nay, nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi lớn đã thông báo điều chỉnh tăng giá bán. Mức tăng phổ biến khoảng 200 đồng/kg, một số sản phẩm tăng cao hơn, cá biệt lên tới 1.500 đồng/kg. Với một số doanh nghiệp, đây đã là lần điều chỉnh tăng giá thứ 6 trong năm.
Đối với người chăn nuôi, mỗi lần tăng giá thức ăn đều tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Giám đốc Hợp tác xã chăn nuôi Hoàng Long (xã Dân Hòa) Nguyễn Trọng Long cho biết, trước đây chi phí thức ăn chiếm khoảng 60-65% tổng chi phí chăn nuôi, nhưng hiện đã tăng lên hơn 70%. Một con lợn trong cả vòng đời có thể tiêu tốn khoảng 260-270kg thức ăn. Với mức tăng 1.500 đồng/kg, riêng chi phí thức ăn cho một con lợn đạt trọng lượng khoảng 100kg hơi đã tăng thêm khoảng 390.000-405.000 đồng. Trong khi giá lợn hơi đang có xu hướng giảm hoặc đi ngang, khoản chi phí tăng thêm này khiến biên lợi nhuận của người nuôi tiếp tục bị thu hẹp.

Ngành chăn nuôi tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, kiểm soát chi phí và nâng năng suất. Ảnh: PV
Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở các hộ nuôi gia cầm. Theo ông Bạch Văn Hộp (hộ chăn nuôi xã Phượng Dực), đối với gà lông màu, ngoài tiền con giống khoảng 15.000 đồng/con, người nuôi còn phải chi cho thức ăn, thuốc thú y, vắc xin điện, nước, nhân công và nhiều khoản chi phí khác. Tổng chi phí để nuôi một con gà xuất chuồng khoảng 2,4kg hiện ở mức gần 150.000 đồng. Trong khi đó, giá gà thịt phổ biến khoảng 50.000-55.000 đồng/kg. Với mức giá này, người nuôi đang bị lỗ, nên nhiều trang trại đang phải hạn chế tái đàn, chờ tín hiệu tích cực hơn từ thị trường.
Thực tế trên cho thấy, bài toán của ngành chăn nuôi hiện nay không thể chỉ giải quyết bằng việc tăng đàn khi giá lên hoặc giảm đàn khi giá xuống. Việc tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, kiểm soát chi phí và nâng năng suất đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Xuân Dương cho rằng, ngành chăn nuôi cần tiếp tục điều tiết quy mô đàn phù hợp với sức mua, đồng thời nâng năng suất và giảm chi phí nguyên liệu đầu vào. Cùng với đó, ngành chăn nuôi cần tăng cường quản lý hạn ngạch, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thịt nhập khẩu nhằm bảo đảm cạnh tranh công bằng, đồng thời đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm.

Cần đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng các vùng an toàn dịch bệnh để tạo điều kiện mở rộng xuất khẩu chính ngạch. Ảnh: PV
Về lâu dài, hướng đi quan trọng của ngành chăn nuôi cần nâng chất lượng thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá. Ngoài ra, ngành cũng cần đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng các vùng an toàn dịch bệnh để tạo điều kiện mở rộng xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường như Halal, Nhật Bản và Đông Nam Á. Đây cũng là hướng để ngành chăn nuôi giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường nội địa. Khi sản phẩm được kiểm soát tốt về chất lượng, an toàn dịch bệnh, có truy xuất nguồn gốc và được chế biến sâu, giá trị gia tăng sẽ cao hơn, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận những thị trường có yêu cầu khắt khe.
