Tháo gỡ ‘nút thắt’ dữ liệu để giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp xuất khẩu

Liên thông dữ liệu được xem là chìa khóa cốt lõi để tối ưu hóa vận hành, cắt giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp xuất khẩu, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Điểm nghẽn hạ tầng số

Theo Hiệp hội Logistics Hà Nội (HNLA), số liệu thống kê cho thấy, mỗi năm các doanh nghiệp Việt Nam mở khoảng 14 - 15 triệu tờ khai xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại là các doanh nghiệp xuất khẩu và đơn vị logistics hầu như không thể chia sẻ dữ liệu hải quan theo mô hình kết nối hệ thống.

 Logistics đang trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng.

 Logistics đang trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng.

Hiện nay, luồng công việc phần lớn vẫn phải xử lý thủ công. Doanh nghiệp phải truy cập vào Hệ thống phần mềm khai báo hải quan điện tử (như ECUS hoặc các phần mềm tương tự) để nhập dữ liệu bằng tay. Sau khi nhận phản hồi từ hệ thống, nhân sự lại phải quay lại phần mềm để lấy mã vạch tờ khai (dạng mã vạch 1D, mã QR hoặc mã số định danh hàng hóa) rồi chuyển đến cửa khẩu bằng các phương thức thủ công để đưa hàng ra khỏi khu vực giám sát hải quan. Việc này làm phát sinh nhiều công đoạn trung gian không đáng có.

Tại Hội nghị trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu do Bộ Công Thương tổ chức ngày 22/9, PGS.TS Nguyễn Duy Đạt, Viện trưởng Viện Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Thương mại và Logistics, Phó Chủ tịch HNLA cho biết, để giải quyết bài toán này, cần thiết lập một cổng Open API. Qua đó, cho phép các phần mềm quản trị doanh nghiệp (như ERP, TMS, WMS) kết nối trực tiếp với hệ thống VNACCS/VCIS của ngành hải quan thông qua trung gian các phần mềm khai báo.

Mô hình B2B2G (Business-to-Business-to-Government) này sẽ giúp doanh nghiệp không phải khai báo lặp lại hai lần trên hai nền tảng khác nhau cho cùng một lượng thông tin. Việc kết nối qua API cũng bảo đảm an toàn dữ liệu, vì doanh nghiệp chỉ chia sẻ và trao đổi thông tin của những tờ khai hải quan do chính mình đăng ký.

Bên cạnh câu chuyện khai báo, PGS.TS. Nguyễn Duy Đạt cũng chỉ ra, quy trình giao nhận hàng hóa tại các cảng biển cũng đang gặp rào cản lớn do thiếu tính liên thông dữ liệu, đặc biệt là ở khu vực phía Bắc.

Về bản chất, thủ tục thanh lý tờ khai hải quan là bước xác định một tờ khai đã thực xuất hoặc thực nhập hàng hóa qua khu vực giám sát và hoàn toàn có thể tự động hóa. Công cụ thực hiện việc này là Hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển (VASSCM), cổng trung gian kết nối 3 bên: Cơ quan hải quan, doanh nghiệp cảng và doanh nghiệp xuất nhập khẩu/logistics.

Thực tế cho thấy, trong khi hải quan tại các cụm cảng khu vực TP. Hồ Chí Minh đã vận hành thủ tục này tự động hoàn toàn, thì tại khu vực phía Bắc việc triển khai vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do hệ thống VASSCM muốn vận hành được thì bắt buộc phải đồng bộ hóa dữ liệu với các doanh nghiệp kinh doanh cảng bãi. Tuy nhiên, việc phát triển ePort (cảng điện tử có khả năng trao đổi dữ liệu với hệ thống VASSCM) tại miền Bắc hiện vẫn còn hạn chế.

"Sự hạn chế trong việc triển khai ePort không chỉ làm chậm tiến độ triển khai thanh lý tờ khai tự động, mà còn khiến các doanh nghiệp xuất khẩu và logistics không thể thanh toán hay giao nhận hàng hóa trực tuyến. Hệ quả là doanh nghiệp vẫn phải cử nhân sự đến tận cảng để xếp hàng thanh toán trực tiếp các hóa đơn tiền nâng, hạ bãi, gây lãng phí nguồn lực xã hội nghiêm trọng", PGS.TS. Nguyễn Duy Đạt phân tích. 

Cần quy chuẩn hóa để đồng bộ chuỗi logistics

Để tháo gỡ tận gốc "nút thắt" về liên thông dữ liệu tại hệ thống cảng biển phía Bắc, PGS.TS. Nguyễn Duy Đạt cho rằng, cơ quan quản lý cần đưa ra những tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc. Theo đó, Cục Hải quan cần ban hành quy chuẩn cụ thể về hệ thống ePort trước khi cấp phép hoạt động cho các doanh nghiệp kinh doanh cảng. Đối với các cảng đang hoạt động, cần áp dụng một lộ trình chuẩn hóa hệ thống quản lý rõ ràng để duy trì giấy phép.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần khẩn trương đưa ra quy chuẩn về hệ thống quản lý đối với các doanh nghiệp kinh doanh bãi. Dù không trực tiếp tham gia vào quy trình thủ tục hải quan, việc liên thông dữ liệu với các đơn vị kinh doanh bãi sẽ giúp dòng chảy thông tin giao nhận hàng hóa được thông suốt từ đầu đến cuối trong toàn bộ chuỗi xuất nhập khẩu.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Đồng thời, nhấn mạnh quan điểm: Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.

Việc thúc đẩy liên thông dữ liệu, tối ưu hóa vận hành ngành logistics hiện nay không chỉ là giải pháp cấp thiết giúp giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn là hành động cụ thể để đưa chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống.

Logistics ngày càng khẳng định vai trò là mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng và hoạt động thương mại, góp phần kết nối sản xuất với thị trường, tối ưu dòng hàng hóa và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, ngành logistics Việt Nam đang mở rộng cả về quy mô, dịch vụ và năng lực công nghệ.

Quỳnh Nga

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/thao-go-nut-that-du-lieu-de-giam-chi-phi-logistics-cho-doanh-nghiep-xuat-khau-474081.html