Thay đổi cách tiếp cận quản lý, nhận diện vật liệu theo xu hướng mới

Nghị định 209/2026/NĐ-CP không chỉ thay thế nghị định cũ, mà còn thiết lập cách tiếp cận quản lý vật liệu xây dựng hiện đại, rõ trách nhiệm và bám sát Luật Xây dựng 2025.

Ba chuyển dịch lớn hướng tới quản lý hiện đại

Nghị định 209/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý vật liệu xây dựng được Chính phủ ban hành ngày 15/6/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Nghị định không chỉ thay thế Nghị định 09/2021/NĐ-CP mà còn thiết lập cách tiếp cận quản lý vật liệu xây dựng hiện đại, rõ trách nhiệm và bám sát Luật Xây dựng 2025.

Nghị định 209 thay đổi cách nhận diện vật liệu theo xu hướng mới của ngành.

Nghị định 209 thay đổi cách nhận diện vật liệu theo xu hướng mới của ngành.

Tinh thần này được cụ thể hóa bằng ba chuyển dịch lớn, đó là chuyển từ quản lý dàn trải sang quản lý có trọng tâm; chuyển từ can thiệp hành chính cứng nhắc sang điều hành linh hoạt bằng chiến lược, tiêu chuẩn và quy chuẩn.

Đồng thời, chuyển từ việc chú trọng vật liệu truyền thống sang thúc đẩy vật liệu mới, vật liệu xanh, tái chế và kinh tế tuần hoàn.

Phạm vi điều chỉnh và cách tiếp cận quản lý của Nghị định 209 đã bám sát nội dung tại Điều 8 và khoản 4 Điều 11 Luật Xây dựng 2025 trong lĩnh vực quản lý vật liệu xây dựng.

Theo đó, quy định chi tiết về phát triển, sản xuất, sử dụng vật liệu và cấu kiện xây dựng trong công trình; quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng.

Quy định về cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi trong việc nghiên cứu, đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu mới, tái chế, xanh, nhẹ, thông minh, thân thiện môi trường, phù hợp ven biển - hải đảo.

Bổ sung biện pháp thi hành về phát triển, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng, amiăng trắng và chất thải trong sản xuất vật liệu.

Cách tiếp cận quản lý cũng theo hướng không quản lý theo dự án, tiền kiểm hay lộ trình hành chính cứng như trước; chuyển sang quản lý bằng chiến lược, kế hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quản lý chất lượng, trách nhiệm chủ thể và hậu kiểm theo pháp luật chuyên ngành. Phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

So với nghị định cũ, Nghị định 209 không chỉ bổ sung khái niệm mà còn thay đổi cách nhận diện vật liệu theo xu hướng mới của ngành. Tạo nền tảng cho chính sách và quản lý khi mở rộng đáng kể cách nhận diện vật liệu theo nghị định cũ. Làm cơ sở thống nhất cho xây dựng chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quản lý chất lượng.

Hỗ trợ lựa chọn vật liệu xây dựng trong công trình và triển khai các chính sách khuyến khích, ưu đãi theo quy định pháp luật có liên quan.

Điều phối cung - cầu bằng quy hoạch cấp tỉnh

Nghị định 209 là công cụ để địa phương dự báo và điều phối cung - cầu, nhất là vật liệu xây dựng thông thường, vật liệu san lấp cho các công trình trọng điểm, giải quyết việc thiếu hụt tại một số địa phương như thời gian qua.

Cụ thể, nghị định đã đưa ra chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Trung ương, là căn cứ để quản lý, điều hành phát triển vật liệu và tích hợp các nội dung liên quan trong quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành, vùng, tỉnh.

Nghị định cũng quy định rõ kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng cấp tỉnh với thời kỳ 5 năm, định hướng 10 năm; có thể lập riêng hoặc lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Các cơ quan quản lý phối hợp quản lý chất lượng, tiêu chuẩn/quy chuẩn, sản phẩm theo mức độ rủi ro; kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm; chia sẻ dữ liệu cung - cầu.

Các cơ quan quản lý phối hợp quản lý chất lượng, tiêu chuẩn/quy chuẩn, sản phẩm theo mức độ rủi ro; kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm; chia sẻ dữ liệu cung - cầu.

Đáng chú ý, Nghị định 209 đã giảm lộ trình hành chính cứng, tăng kiểm soát rủi ro, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm tuân thủ của chủ thể.

Đối với amiăng trắng nhóm serpentine, nghị định không tiếp tục quy định lộ trình hạn chế đầu tư mới hoặc mở rộng cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng như nghị định cũ.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm soát bụi amiăng, quan trắc môi trường lao động, khám sức khỏe nghề nghiệp, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải. Tiếp tục khuyến khích áp dụng công nghệ mới, sử dụng sợi thay thế amiăng trắng.

Đối với chất thải sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và công trình xây dựng. Tiếp tục khuyến khích sử dụng chất thải làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong công trình xây dựng.

Theo đó, điều kiện áp dụng được quy định chặt chẽ hơn. Phải phân loại, xử lý, kiểm soát chất lượng; đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng và yêu cầu về an toàn, bảo vệ môi trường.

Cơ sở sản xuất, chủ đầu tư, nhà thầu và tổ chức, cá nhân liên quan phải lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc, khối lượng, chất lượng, mục đích sử dụng, kết quả thử nghiệm và đánh giá sự phù hợp để phục vụ công tác hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước.

Ưu tiên vật liệu mới, thân thiện môi trường

Cũng theo nghị định, nhà nước khuyến khích, ưu đãi hoạt động nghiên cứu, đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu mới, tái chế, xanh, nhẹ, thông minh, thân thiện môi trường, phù hợp vùng ven biển - hải đảo.Việc áp dụng chính sách được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Ưu tiên vật liệu mới, tái chế, xanh, nhẹ, thông minh, thân thiện môi trường; vật liệu tại chỗ; vật liệu và sản phẩm xây dựng sản xuất trong nước có tỷ lệ nội địa hóa cao.

Việc ưu tiên không phải tuyệt đối, mà phải dựa trên tính chất công trình, yêu cầu kỹ thuật, hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, chi phí vòng đời, tiến độ cung ứng và yêu cầu bảo vệ môi trường. Phải tuân thủ pháp luật về đấu thầu, đầu tư công, cạnh tranh và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Nhà nước khuyến khích, ưu đãi hoạt động nghiên cứu, đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu mới, tái chế.

Nhà nước khuyến khích, ưu đãi hoạt động nghiên cứu, đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu mới, tái chế.

Về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng theo mức độ rủi ro, nghị định quy định những điểm mới, chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng và cấu kiện xây dựng gắn với quy định pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

Sản phẩm sản xuất trong nước trước khi đưa ra thị trường phải đạt tiêu chuẩn đã công bố; sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình hoặc cao phải công bố hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Hàng hóa nhập khẩu phải công bố tiêu chuẩn áp dụng, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; công bố hợp quy hoặc đăng ký kiểm tra nhà nước theo mức độ rủi ro.

Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh chịu trách nhiệm về chất lượng, nhãn hàng hóa, công bố tiêu chuẩn áp dụng, công bố hợp quy, truy xuất nguồn gốc và lưu giữ hồ sơ.

Theo ông Nguyễn Hữu Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng, để Nghị định 209 sớm đi vào thực tiễn, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương rà soát việc lập hoặc lồng ghép kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng; cập nhật dữ liệu sản xuất, tiêu thụ, nguồn cung, giá vật liệu; dự báo nhu cầu công trình trọng điểm.

Các cơ quan quản lý phối hợp quản lý chất lượng, tiêu chuẩn/quy chuẩn, sản phẩm theo mức độ rủi ro; kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm; chia sẻ dữ liệu cung - cầu.

Các doanh nghiệp, chủ đầu tư cần công bố tiêu chuẩn áp dụng, hợp quy; lưu hồ sơ, truy xuất nguồn gốc; ưu tiên vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu mới khi áp dụng yêu cầu kỹ thuật và pháp luật.

Bộ Xây dựng hoàn thiện văn bản hướng dẫn, danh mục sản phẩm/hàng hóa vật liệu xây dựng theo mức độ rủi ro, cơ sở dữ liệu; theo dõi cung - cầu và thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Tiến Hào

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/thay-doi-cach-tiep-can-quan-ly-nhan-dien-vat-lieu-theo-xu-huong-moi-192260706113557022.htm