Thay thế Nghị định 60: Gỡ nhiều 'nút thắt' thủ tục, tạo đà cho ngành in bứt phá
Dù vướng nhiều rào cản cũng như áp lực cạnh tranh lớn, toàn ngành in của Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực trong những năm gần đây. Năm 2025 doanh nghiệp ngành in đóng góp 6.720 tỷ đồng cho ngân sách. Hiện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Dự thảo Nghị định mới thay thế Nghị định 60 với định hướng đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh hậu kiểm...

Ngành in đang xếp thứ 29 trong danh sách những ngành có nhiều cơ hội việc làm nhất trong xã hội. Ảnh: VGP.
Ngày 6/11, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 60/2014/NĐ-CР ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in. Hồ sơ được chuyển sang Bộ Tư pháp để thẩm định.
ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH, ĐƠN GIẢN HÓA ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ năm 2020 đến nay, ngành in thế giới trải qua một chu kỳ đặc biệt: cú sốc COVID-19 làm sản lượng in toàn cầu giảm mạnh; giai đoạn 2021–2022 phục hồi về giá trị; từ 2023 trở đi, tăng trưởng phân hóa rõ giữa các nhóm sản phẩm.
Thị trường in thế giới có sự phân bố tập trung tại các khu vực có quy mô kinh tế lớn, năng lực sản xuất công nghiệp và mức độ tiêu dùng cao như châu Á, Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong đó, châu Á ngày càng giữ vai trò trung tâm của thị trường in toàn cầu.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Tại Việt Nam, đến ngày 04/02/2026, cả nước có khoảng 3.580 cơ sở in được cấp giấy phép hoạt động, tăng 7,8% so với năm 2024. Năm 2025, theo tổng hợp báo cáo của Cục Xuất bản, In và Phát hành, cả nước có khoảng 265 cơ sở in thành lập mới, được cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương cấp phép hoạt động.
Các cơ sở thành lập mới chủ yếu là cơ sở in tư nhân, hộ kinh doanh cá thể, chiếm khoảng 40%, tập trung tại các tỉnh, thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và khu logistics.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Phân loại theo vốn đầu tư cho thấy doanh nghiệp Việt Nam chiếm khoảng 89,4% với 3.200 cơ sở; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và liên doanh chiếm 10,6% với 380 cơ sở. Báo cáo chỉ ra rằng khối doanh nghiệp FDI tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng lại tập trung ở phân khúc công nghệ cao, in bao bì xuất khẩu và in thương mại quy mô lớn.
Về doanh thu, toàn ngành ước đạt 158.500 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch năm 2025, tăng 5,8% so với năm 2024. Lợi nhuận toàn ngành ước đạt 11.450 tỷ đồng, tăng 6,2%; nộp ngân sách nhà nước đạt 6.720 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch năm.
Về lao động ngành in, năm 2025 ước đạt 61.800 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 62%. Nhu cầu nhân lực đào tạo mới của ngành in ước đạt 2.500 người/năm, trong khi năng lực đào tạo hiện nay mới đáp ứng khoảng 50-55% nhu cầu.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngành in đang xếp thứ 29 trong danh sách những ngành có nhiều cơ hội việc làm nhất trong xã hội, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi tính ổn định, không gian phát triển, mở rộng hoạt động kinh tế, liên kết vùng.
Thị trường này ngày đang ngày càng tăng trưởng cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa trong nước. Thị trường quốc tế rộng mở hơn nhờ 15 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết với các nước và các khu vực lớn, phát triển.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Tuy nhiên, ngành này hiện gặp nhiều thách thức về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực. Đặc biệt, qua 11 năm thi hành Nghị định số 60/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn, nhiều quy định đã bộc lộ hạn chế, bất cập như một số thủ tục hành chính vẫn còn mang tính tiền kiểm, tình trạng in lậu, in giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và sản xuất các sản phẩm in vi phạm pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp…
Do đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 60/2014/NĐ-CP. Quan điểm là đẩy mạnh cải cách thể chế, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp gia nhập và hoạt động trên thị trường, đồng thời chuyển mạnh sang hậu kiểm…
BỔ SUNG CÁC HÀNH VI CẤM, KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG IN LẬU
Một điểm nổi bật là điều 4 dự thảo mở rộng, cụ thể hóa các hành vi bị cấm trong đặt in, nhận in, tổ chức hoạt động in và nhập khẩu thiết bị in.
Bổ sung các hành vi liên quan đến giả mạo hồ sơ đặt in, làm giả hàng hóa, gian lận xuất xứ, tự ý thay đổi hoặc sử dụng trái phép bản mẫu, khuôn in, dữ liệu bảo an, đưa sản phẩm in thử, in hỏng, in thừa vào lưu thông trái phép, sử dụng thông tin đăng ký của cơ sở khác và gian lận thông tin thiết bị in.
Theo cơ quan soạn thảo, việc sửa đổi nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động in trong tình hình mới.
Tại điều 11 dự thảo được sửa đổi theo hướng rà soát, đơn giản hóa điều kiện hoạt động của cơ sở in. Theo đó, cơ sở kinh doanh dịch vụ in phải có mặt bằng sản xuất và thiết bị in phù hợp với công đoạn hoạt động đã đăng ký; đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng đối với hoạt động in theo quy định của pháp luật.
Đặc biệt, đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ in thực hiện chế bản, in, gia công sau in các nhóm sản phẩm có yêu cầu quản lý, dự thảo tiếp tục quy định điều kiện về người đứng đầu và chủ sở hữu; lược bỏ quy định hạn chế doanh nghiệp có vốn góp của cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Dự thảo cũng bãi bỏ cơ chế cấp giấy phép hoạt động in riêng đối với các sản phẩm thuộc diện quản lý chặt; chuyển sang cơ chế đăng ký và cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động in…
Nhằm hạn chế tình trạng in lậu, in giả và vi phạm pháp luật, dự thảo sửa đổi quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở in và bên đặt in.
Theo điều 14, bên đặt in phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyền đặt in, tính hợp pháp và tính chính xác của tài liệu, thông tin, nội dung, hình ảnh và mẫu sản phẩm đặt in, kể cả trường hợp có sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo để tạo lập nội dung, hình ảnh hoặc thiết kế…
Góp ý dự thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị nghiên cứu theo hướng hạn chế nhập khẩu thiết bị cũ, lạc hậu và có lộ trình kiểm soát chặt hơn.
Tiếp thu ý kiến này, cơ quan soạn thảo cho biết dự thảo được rà soát theo hướng tăng cường kiểm soát đối với thiết bị in đã qua sử dụng, phù hợp với đặc điểm công nghệ và mức độ tác động của từng nhóm thiết bị. Bổ sung nguyên tắc thiết bị nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu có liên quan về an toàn, bảo vệ môi trường, năng lượng và các yêu cầu kỹ thuật khác theo quy định của pháp luật.

