Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược của hai nghị quyết của Bộ Chính trị

Chính phủ đã ban hành hai nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW, xây dựng chương trình hành động hướng tới mục tiêu: Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược của hai nghị quyết quan trọng này.

Chuyên đề “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” tại hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt sáng 25/2 đã được Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình trực tiếp truyền đạt.

Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược của hai nghị quyết

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình cho biết, thực hiện nhiệm vụ được giao theo Kết luận của Bộ Chính trị, Đảng ủy Chính phủ đã ban hành hai nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược của hai nghị quyết quan trọng này. Bố trí nguồn lực và các điều kiện bảo đảm cho thực hiện Nghị quyết. Xác định rõ nhiệm vụ phải làm, phân công cơ quan chủ trì gắn với lộ trình và sản phẩm đầu ra cụ thể, bảo đảm nghị quyết đi vào cuộc sống.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự hội nghị.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự hội nghị.

Về nhiệm vụ đã được thiết kế trong chương trình hành động của Chính phủ đối với 2 nghị quyết, tổng cộng có 230 nhiệm vụ. Trong đó, đối với Nghị quyết số 79 có 99 nhiệm vụ và Nghị quyết số 80 có 131 nhiệm vụ. Những nhiệm vụ này xoay quanh những nội dung cốt lõi là: Xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ cho thực hiện nghị quyết; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hạ tầng chiến lược; thiết kế các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù cho 2 lĩnh vực này, đảm bảo cho các nghị quyết được thực thi; xác định nội hàm các nhiệm vụ, có phân công lộ trình cho các cơ quan, địa phương.

Bên cạnh nội dung chung nêu trên, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình đã đề cập đến các nhóm nhiệm vụ cụ thể liên quan đến hai nghị quyết.

Xác lập rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chỉ rõ kinh tế nhà nước không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là khu vực doanh nghiệp nhà nước, mà bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như: đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm; hệ thống kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư; ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước và vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Việc nhận diện đầy đủ, đúng bản chất các cấu phần này là cơ sở quan trọng để quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia.

Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng đã chỉ rõ, sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước đã có những đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao vị thế đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập. Đó là thể chế, chính sách chậm được đổi mới; quản lý, khai thác nguồn lực chưa tương xứng với tiềm năng; hiệu quả hoạt động của một số doanh nghiệp nhà nước chưa cao; đơn vị sự nghiệp công lập chậm đổi mới cơ chế hoạt động; tình trạng lãng phí, thất thoát nguồn lực ở một số lĩnh vực vẫn còn diễn biến phức tạp…

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình truyền đạt Chuyên đề “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình truyền đạt Chuyên đề “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong và định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao...

Trên cơ sở các mục tiêu đó, Chương trình hành động của Chính phủ tập trung vào hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện. Theo Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình, yêu cầu xuyên suốt là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, từ tiền kiểm sang hậu kiểm; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát; đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí.

Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng nhấn mạnh việc tách bạch rõ giữa nhiệm vụ cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và hoạt động kinh doanh; giữa chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước; bảo đảm kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các thành phần kinh tế khác, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cơ cấu lại thực chất; đổi mới quản trị theo chuẩn mực quốc tế; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; xử lý dứt điểm các dự án, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài; xây dựng cơ chế tiền lương, đãi ngộ gắn với hiệu quả hoạt động; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Đảng ủy Công an Trung ương.

Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Đảng ủy Công an Trung ương.

Trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên và kết cấu hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh số hóa dữ liệu; khai thác hiệu quả tài nguyên biển, tài nguyên số, không gian ngầm; ưu tiên đầu tư các công trình hạ tầng chiến lược, khuyến khích các mô hình hợp tác công – tư phù hợp, bảo đảm công khai, minh bạch.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cũng cho biết, về tổ chức thực hiện, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chỉ rõ trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương; yêu cầu xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, phân công nhiệm vụ rõ ràng, gắn với kiểm tra, giám sát thường xuyên. Thành công của Nghị quyết phụ thuộc quyết định vào khâu tổ chức thực hiện, trong đó phải bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và rõ kết quả.

Đồng chí Nguyễn Hòa Bình cũng khẳng định: Việt triển khai hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, mà còn góp phần quan trọng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn phát triển mới.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn vào quản lý văn hóa

Đối với Nghị quyết số 80-NQ/TW, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình cho biết, nhóm nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động đã xác định rõ các nhiệm vụ cụ thể là: Quán triệt Nghị quyết số 80-NQ/TW một cách sâu sắc về vai trò nền tảng, sức mạnh nội sinh của văn hóa đến toàn thể cán bộ, đảng viên. Lồng ghép yêu cầu phát triển văn hóa trong hoạch định chiến lược, xây dựng quy hoạch và xây dựng các dự án phát triển kinh tế xã hội. Đổi mới công tác truyền thông, tăng cường tuyên truyền trên hệ thống truyền thông hiện đại, ưu tiên truyền thông số, nhân rộng các gương người tốt việc tốt, chuẩn mực con người Việt Nam. Xây dựng môi trường thông tin trong sạch, phát huy vai trò hạt nhân lan tỏa của văn nghệ sĩ và trí thức…

Tiếp đó, nhóm nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế tạo đột phá, xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Ban hành Nghị quyết của Quốc hội với các đột phá về mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong thiết chế văn hóa và Quỹ văn hóa, nghệ thuật; cơ chế tài chính ưu tiên (cho đào tạo, công nghệ số, đặt hàng tác phẩm); chính sách đãi ngộ, trọng dụng tài năng nghệ thuật. Xây dựng mới các Luật (Hoạt động nghệ thuật, Văn học, Bản quyền tác giả, Công nghiệp văn hóa) và sửa đổi, bổ sung các luật hiện hành (Xuất bản, Thể dục thể thao, Du lịch, Thư viện, Điện ảnh, Di sản văn hóa). Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về ưu đãi đầu tư, hỗ trợ thuế, đất đai, đấu thầu và cơ chế tài chính. Xây dựng Nghị định về đặt hàng sáng tạo, phổ biến các tác phẩm văn hóa nghệ thuật có giá trị cao và Nghị định về hạ tầng văn hóa số, quản lý dữ liệu cùng không gian văn hóa số…

Nhóm nhiệm vụ về xây dựng con người văn hóa và môi trường văn hóa xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. Gắn kết gia đình, nhà trường, xã hội trong giáo dục đạo đức, nghệ thuật từ mầm non đến đại học, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Gắn thế trận văn hóa với quốc phòng, an ninh. Nâng cao chuẩn mực văn hóa công vụ và xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức kinh doanh đậm bản sắc dân tộc. Hoàn thiện đầu tư, vận hành hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao. Đẩy mạnh văn hóa đọc, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số và cung cấp dịch vụ công nhằm bảo đảm quyền hưởng thụ văn hóa bình đẳng cho nhóm người yếu thế…

Nhóm nhiệm vụ về đổi mới phương thức quản lý và chuyển đổi số, xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Đổi mới phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Vận hành mô hình quản trị điện tử, xử lý nhanh vi phạm. Tổ chức lại đơn vị sự nghiệp bảo đảm tinh gọn, tự chủ. Vận hành hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia liên thông. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn vào quản lý. Số hóa toàn diện di sản, tác phẩm nghệ thuật và ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Phát triển nền tảng giới thiệu văn hóa Việt Nam, tăng tỷ trọng sản phẩm nội địa. Phát triển văn hóa đại chúng bảo đảm nguyên tắc dân tộc hóa, khoa học hóa. Hoàn thiện hệ thống bảo vệ bản quyền số. Quản trị dữ liệu để bảo vệ sở hữu trí tuệ và chủ quyền văn hóa số. Thường xuyên rà quét, ngăn chặn triệt để thông tin xấu độc trên môi trường mạng…

Nhóm nhiệm vụ về xây dựng hệ sinh thái văn hóa và sáng tạo, xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Xây dựng hệ sinh thái sáng tạo văn hóa gắn kết với khởi nghiệp và công nghệ mới. Áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong hoạt động văn hóa. Hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, không gian sáng tạo nội dung số và thị trường sản phẩm liên vùng tại các đô thị lớn. Huy động tối đa nguồn lực doanh nghiệp tham gia phát triển chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa và giải trí. Hình thành các đô thị di sản và phát triển kinh tế di sản tại Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, Huế. Xây dựng các thiết chế thân thiện, linh hoạt gắn với đời sống đương đại như bảo tàng mở, nhà hát di động và thư viện số. Thúc đẩy thương mại hóa, mở rộng thị trường cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, công nghiệp nông thôn mang bản sắc Việt Nam thông qua việc đổi mới công nghệ và thiết kế mẫu mã. Nghiên cứu phát triển đồng bộ hệ thống công viên địa chất kết hợp với du lịch giáo dục…

Nhóm nhiệm vụ về công nghiệp văn hóa và thương hiệu quốc gia, xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Triển khai đồng bộ chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và chiến lược du lịch Việt Nam đến năm 2030. Xây dựng đề án phát triển từ 05 đến 10 thương hiệu quốc gia mang tính dẫn dắt về công nghiệp văn hóa và du lịch dựa trên nền tảng bản sắc vùng miền. Bố trí quy hoạch quỹ đất để đầu tư các trung tâm công nghiệp văn hóa, phim trường và không gian sáng tạo. Tập trung hình thành các cụm tổ hợp văn hóa và phát triển các tập đoàn công nghiệp văn hóa sáng tạo tầm cỡ quốc gia, quốc tế. Thí điểm ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch và mô hình kinh tế tuần hoàn trong toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất văn hóa. Hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo công nghệ số, khẩn trương vận hành sàn giao dịch bản quyền, tài sản văn hóa nghệ thuật dưới dạng số. Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, nền tảng phân phối nội dung, thể thao điện tử và kinh tế đêm. Tăng cường xúc tiến thương mại và nâng tầm Giải thưởng sách quốc gia thành chuỗi sự kiện quy mô lớn nhằm phát triển văn hóa đọc và thị trường xuất bản…

Nhóm nhiệm vụ về nguồn lực, hạ tầng và nhân lực, xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Triển khai quyết liệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 đến 2035. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính, bố trí tối thiểu 2% tổng chi NSNN hằng năm cho lĩnh vực văn hóa và phân bổ theo hướng đầu tư trọng điểm gắn với hiệu quả đầu ra. Thiết lập cơ chế linh hoạt nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa dài hạn, minh bạch. Lập Bản đồ định hướng đầu tư hạ tầng văn hóa quốc gia, ưu tiên nguồn vốn cho các vùng trắng thiết chế cơ sở. Tập trung đầu tư, hoàn thiện các thiết chế quy mô quốc gia bao gồm Bảo tàng quốc gia, Nhà hát quốc gia và trung tâm nghệ thuật quốc gia. Xây dựng Đề án định giá kinh tế di sản để khai thác hiệu quả tài sản văn hóa số. Triển khai đề án phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2030 nhằm kiến tạo động lực tăng trưởng mới. Ban hành Chiến lược quốc gia phát triển nhân lực văn hóa nghệ thuật. Tổ chức chương trình đào tạo chuyên sâu 5.000 nhân lực phát triển trò chơi điện tử phục vụ giáo dục lịch sử Việt Nam.

Nhóm nhiệm vụ về Hội nhập quốc tế về văn hóa, xác định các nhiệm vụ cụ thể là: Ban hành Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Đưa nội dung văn hóa vào các hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại song phương, đa phương và các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao. Cử tùy viên văn hóa, cán bộ phụ trách hợp tác văn hóa tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài; hợp tác với UNESCO lập hồ sơ ghi danh thêm 5 di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới tiêu biểu. Thành lập mới 1 đến 3 Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại các quốc gia đối tác chiến lược như Nga, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản; nâng cao hiệu quả các trung tâm tại Pháp, Lào. Xây dựng đề án phát triển chuỗi nhà hàng ẩm thực Việt Nam tại nước ngoài. Triển khai chiến dịch truyền thông đa ngôn ngữ Ấn tượng Việt Nam hằng năm và phát triển mạng lưới đại sứ văn hóa. Hỗ trợ dịch thuật và xuất bản 200 tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam ra thế giới mỗi năm. Ngăn chặn triệt để văn hóa phẩm ngoại lai phản cảm trên không gian mạng…

Phương Thủy

Nguồn CAND: https://cand.com.vn/su-kien-binh-luan-thoi-su/the-che-hoa-day-du-dong-bo-cac-chu-truong-chien-luoc-cua-hai-nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-i797718/