Thế trận lòng dân – lá chắn thép đập tan mưu đồ chia rẽ lực lượng vũ trang - Bài 1: Thế trận lòng dân - điểm tựa sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân
Cục diện thế giới, khu vực đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng; sự đan xen giữa an ninh truyền thống và phi truyền thống tạo nên một bức tranh an ninh hỗn hợp, khó dự báo, đặt ra nhiều thách thức to lớn. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc củng cố sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
Do đó, giữ vững thế trận lòng dân là nền tảng chính trị - tinh thần, phòng tuyến vững chắc trước mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị gia tăng sử dụng nhiều chiêu trò tinh vi chia rẽ trong lực lượng vũ trang, chia rẽ giữa lực lượng vũ trang (LLVT) với Đảng, với nhân dân nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội, tiến tới phá vỡ sự đồng thuận quốc gia. Vì vậy, giữ vững thế trận lòng dân vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là giải pháp căn bản để hóa giải mọi mưu đồ chia rẽ, bảo đảm LLVT nhân dân luôn là chỗ dựa tin cậy vững.
"Thế trận lòng dân" là sự hội tụ và kết tinh của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự do, khát vọng phát triển và sự đoàn kết gắn bó của toàn dân tộc, được định hướng và tổ chức thành nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, “lòng dân” và “thế trận lòng dân” có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau. Lòng dân tồn tại khách quan trong đời sống xã hội, song nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì lòng dân chỉ là những khối rời rạc. Chính Đảng là chủ thể chuyển hóa lòng dân thành thế trận. Khi thế trận lòng dân được xây dựng bền chặt sẽ tiếp tục củng cố lòng dân, qua đó trở thành nền tảng tinh thần, điểm tựa sức mạnh của LLVT nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
LLVT nhân dân là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là chủ thể quan trọng trong xây dựng, củng cố thế trận lòng dân. Sức mạnh của LLVT không chỉ được tạo nên từ tổ chức, trang bị hay năng lực chiến đấu, mà trước hết được cấu thành từ ba mối quan hệ mang tính nguyên tắc: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân và sự hiệp đồng chặt chẽ nội sinh giữa các thành phần LLVT. Ba mối quan hệ này thống nhất biện chứng, tạo thành nền tảng chính trị - xã hội cho LLVT giữ vững bản chất cách mạng, quy tụ lòng dân thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, qua đó khẳng định thế trận lòng dân vừa là điểm tựa sức mạnh, vừa là điều kiện bảo đảm để LLVT hoàn thành sứ mệnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, là lực lượng quyết định sự vận động và phát triển của xã hội; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”. Trong đấu tranh cách mạng, sức mạnh của LLVT không tồn tại tách rời mà bắt nguồn từ nhân dân, được nuôi dưỡng bởi sự ủng hộ, tin tưởng và tham gia của quần chúng nhân dân. V.I.Lênin chỉ rõ: “Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực lượng hơn, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi”.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán xuyên suốt với quan điểm “dân là gốc”, đặt nền tảng lý luận quan trọng cho việc xây dựng thế trận lòng dân. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; xây dựng LLVT cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Vì vậy, nhân tố chính trị - tinh thần, cốt lõi là “lòng dân”, niềm tin và ý chí của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định đối với sự thành bại của cách mạng.
Ngay từ khi thành lập, tư duy của Đảng ta về thế trận lòng dân trong việc quy tụ nhân tâm để xây dựng “bức tường đồng xung quanh Tổ quốc” đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. Tại Đại hội X (2006), Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” và xác định: “Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt”.
Theo đó, từ Đại hội XI đến Đại hội XIII, tư tưởng về thế trận lòng dân đều được Đảng ta tiếp tục khẳng định và chuyển biến nhận thức từ củng cố nền tảng sang khai thác hiệu quả sức mạnh nội sinh của lòng dân trong điều kiện mới. Đặc biệt, Đại hội XIV đã đánh dấu bước phát triển mới về chất trong nhận thức khi mở rộng nội hàm thế trận lòng dân bao gồm toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thay vì chỉ phạm vi quốc phòng - an ninh như trước đây, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, là trung tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, trước hết là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới”.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, tư tưởng xây dựng thế trận lòng dân luôn là nhân tố quyết định thắng lợi, lá chắn thép bảo vệ sự trường tồn của đất nước. Trong đó, nổi bật là tư tưởng của Trần Hưng Đạo về “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” và nghệ thuật gắn kết “phụ tử chi binh” đã minh chứng rõ nét: Lòng dân chính là bức thành trì kiên cố nhất của quốc gia.
Tinh thần ấy đã được Nguyễn Trãi nâng tầm thành triết lý biện chứng “lật thuyền mới biết sức dân như nước”, khẳng định “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” là thượng sách giữ nước vĩnh hằng, tạo nên sức mạnh vô địch bẻ gãy mọi cuồng phong xâm lược. Kế thừa minh triết của cha ông, trong giai đoạn “Kháng chiến kiến quốc”, Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã trở thành một hiện tượng lịch sử đặc biệt khi quy tụ hàng chục vạn dân công tham gia chiến dịch với số lượng đông gấp nhiều lần quân đội, biến lòng yêu nước và niềm tin chính trị tuyệt đối thành nguồn hậu cần và sức mạnh tinh thần vô hạn để công phá thành trì thực dân. Tiếp nối truyền thống ấy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, sức mạnh thế trận lòng dân đã kết tinh thành sự đồng thuận chiến lược “muôn người như một”, tạo ra sức mạnh tổng lực giúp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thế trận lòng dân đã trở thành điểm tựa, mạch nguồn nội sinh vĩnh hằng, biến LLVT thành đội quân bách chiến bách thắng đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Trong kỷ nguyên mới, giá trị bền vững ấy tiếp tục là cơ chế phòng thủ từ gốc, tạo sức đề kháng nội sinh để hóa giải mọi âm mưu chống phá, chia rẽ từ sớm, từ xa.

LLVT Quân khu 5 hành quân dã ngoại kết hợp công tác dân vận, tuyên truyền góp phần xây dựng thế trận lòng dân. Ảnh: VĂN TUÂN
Thực tiễn sau 40 năm Đổi mới, thế trận lòng dân luôn được củng cố, song cũng xuất hiện những nguy cơ xói mòn cần được nhận diện thẳng thắn. Điểm nổi bật là niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và bản chất cách mạng của LLVT tiếp tục được gia cố thông qua thành tựu đổi mới, công cuộc chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã kỷ luật hơn 3.700 tổ chức đảng, hơn 213.000 đảng viên, trong đó hơn 8.760 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng, hơn 700 đảng viên bị kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập; kỷ luật gần 220 cán bộ diện Trung ương quản lý.
Mối quan hệ quân - dân ngày càng bền chặt thông qua công tác phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Hệ thống chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh ngày càng hoàn thiện đã tạo nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc cho việc quy tụ sức mạnh toàn dân. Tuy nhiên, thế trận lòng dân vẫn đối diện những hạn chế đáng lo ngại như sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm làm xói mòn niềm tin xã hội; tư duy “khoán trắng” nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cho LLVT; sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng gia tăng và những bất cập trong thực hiện chính sách xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, đang tạo ra những “khoảng trống tâm lý” để kẻ thù lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, thế trận lòng dân đang chịu sức ép từ các đòn công kích trực diện của thế lực thù địch vào không gian mạng - “lãnh thổ thứ năm” của quốc gia, nơi ghi nhận hơn 650.000 cuộc tấn công mạng chỉ riêng trong năm 2024. Những yếu tố đan xen này cho thấy việc giữ vững và củng cố thế trận lòng dân vừa có thuận lợi, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chủ động giải quyết các nguy cơ từ sớm, từ xa.
Bài học kinh nghiệm quốc tế cũng chỉ rõ, khi không quy tụ được lòng dân và tạo dựng được sự đồng thuận của xã hội, nền tảng chính trị của chế độ sẽ bị suy giảm, kéo theo sự suy yếu của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đây chính là “tử huyệt” mà thế lực thù địch rắp tâm chống phá để đạt được âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chúng. Sự tan rã của Liên Xô năm 1991 là kết quả của nhiều nguyên nhân đan xen, song đó là minh chứng cho niềm tin của nhân dân bị suy giảm, khối đại đoàn kết xã hội bị phá vỡ, Đảng cầm quyền bị cô lập, LLVT bị “tê liệt” vì mất bản chất chính trị, mất điểm tựa nhân dân, thì sức mạnh quốc gia có to lớn đến mấy cũng nhanh chóng suy yếu, khủng hoảng toàn diện và sụp đổ chế độ. Do đó, giữ vững thế trận lòng dân, củng cố đồng thuận xã hội chính là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh và sự vững bền của dân tộc.
Như vậy, thế trận lòng dân là nền tảng chính trị - tinh thần, điểm tựa sức mạnh của LLVT nhân dân, là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong giữ vững sự ổn định và phát triển của chế độ. Do đó, các thế lực thù địch luôn xem đây là trọng điểm chống phá, tìm mọi cách công kích, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, LLVT và nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở để nhận diện rõ hơn những “vỏ bọc mới, mưu đồ cũ” trong âm mưu chia rẽ LLVT hiện nay.
------------------------------------
(Còn nữa)











