Thép ray đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam: Hòa Phát và ván bài vật liệu quốc gia

Sau con số tổng mức đầu tư 67 tỷ USD của dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là một bài toán công nghiệp cân não: Liệu Việt Nam có thể làm chủ 29 triệu mét ray thép đạt chuẩn châu Âu, hay tiếp tục phụ thuộc nguồn cung ngoại?

* Cuộc đại dịch chuyển từ lợi thế tài nguyên sang năng lực vật liệu "Made in Vietnam" đang đặt ngành luyện kim và cơ khí chính xác trước một phép thử lịch sử.

Với tổng mức đầu tư khoảng 67 tỷ USD theo Nghị quyết số 172/2024/QH15 của Quốc hội, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam thường được nhìn như dự án hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay.

Nhưng phía sau những đoàn tàu tốc độ cao là một bài toán công nghiệp sâu hơn: Việt Nam có thể làm chủ những vật liệu nền tảng cho các công trình chiến lược, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài?

Một tuyến đường sắt hiện đại không chỉ cần vốn đầu tư, công nghệ vận hành hay thiết bị. Nó cần một nền công nghiệp đủ khả năng tạo ra những vật liệu có yêu cầu kỹ thuật cao, từ ray thép, hợp kim đặc chủng đến các linh kiện phục vụ cơ khí chính xác.

Theo yêu cầu kỹ thuật, ray thép sử dụng cho Dự án đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam được thiết kế để chịu áp lực và độ mài mòn cực lớn, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới bao gồm tiêu chuẩn Châu Âu (EN 13674 / EN 3674), Nhật Bản (JIS E1120) và Trung Quốc (TB/T 2344). Ảnh phối cảnh: Chinhphu.vn

Theo yêu cầu kỹ thuật, ray thép sử dụng cho Dự án đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam được thiết kế để chịu áp lực và độ mài mòn cực lớn, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới bao gồm tiêu chuẩn Châu Âu (EN 13674 / EN 3674), Nhật Bản (JIS E1120) và Trung Quốc (TB/T 2344). Ảnh phối cảnh: Chinhphu.vn

Theo ông Trần Thiện Cảnh, Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam, nhu cầu vật tư cho hệ thống đường sắt trong giai đoạn tới gồm khoảng 28,7 triệu mét ray thép, 11.680 bộ ghi và khoảng 46 triệu thanh tà vẹt, chưa kể hệ thống tín hiệu, điện sức kéo và phương tiện vận hành.

Quy mô này không chỉ phản ánh nhu cầu của một dự án hạ tầng trị giá hàng chục tỷ USD. Nó mở ra một thị trường công nghiệp mới, nơi năng lực luyện kim, cơ khí chính xác và công nghiệp hỗ trợ sẽ quyết định mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam.

Trong nhiều năm, ray thép tốc độ cao vẫn là sản phẩm do một số tập đoàn luyện kim lớn trên thế giới làm chủ. Đây là loại vật liệu đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ về thành phần hợp kim, độ bền, khả năng chịu tải và độ ổn định trong điều kiện vận hành liên tục.

Việc Tập đoàn Hòa Phát đầu tư khoảng 14.000 tỷ đồng xây dựng dây chuyền sản xuất thép ray và thép hình công suất 700.000 tấn/năm đánh dấu bước tham gia của Việt Nam vào phân khúc vật liệu có hàm lượng công nghệ cao.

Dự kiến sản phẩm đầu tiên sẽ được xuất xưởng vào quý I/2027, với chiều dài ray tới 100 mét, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế. Nếu thành công, đây sẽ là một bước chuyển quan trọng của ngành luyện kim trong nước.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở một dự án của doanh nghiệp. Sự xuất hiện của thép ray sản xuất trong nước cho thấy cách tiếp cận phát triển công nghiệp đang thay đổi: từ mở rộng năng lực sản xuất sang làm chủ những tầng giá trị nằm phía trước.

Tại cuộc họp lấy ý kiến về Dự thảo Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Công Thương xác định mục tiêu xây dựng ngành vật liệu tự chủ, hiện đại và làm chủ một số chuỗi cung ứng chiến lược.

Trọng tâm của chiến lược là phát triển các vật liệu nền tảng, vật liệu mới phục vụ trực tiếp cho những ngành công nghệ cao; giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu; đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu, chế biến sâu và làm chủ công nghệ.

Ông Đỗ Nam Bình, Trưởng phòng Khoáng sản và Luyện kim, Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, cho rằng cạnh tranh quốc tế hiện nay không chỉ diễn ra ở sản phẩm cuối cùng mà còn nằm ở nguyên liệu, vật liệu, công nghệ chế biến sâu, tiêu chuẩn, dữ liệu và chuỗi cung ứng.

Vị trí của một quốc gia trong công nghiệp vì thế không chỉ được quyết định bởi khả năng sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Năng lực cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào khả năng kiểm soát những lớp giá trị tạo nên sản phẩm đó.

Từ tài nguyên đến năng lực vật liệu

Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế về tài nguyên với đất hiếm, bauxite, titan, dầu khí và nguồn sinh khối phong phú. Tuy nhiên, trong nhiều năm, phần lớn giá trị kinh tế vẫn tập trung ở khai thác hoặc cung cấp nguyên liệu sơ cấp, trong khi các công đoạn tạo giá trị cao hơn còn hạn chế.

Khoảng cách giữa một tấn quặng và một thanh ray thép tốc độ cao không nằm ở giá trị vật chất ban đầu. Khoảng cách đó được tạo nên bởi công nghệ luyện kim, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực nghiên cứu, dữ liệu vật liệu và khả năng tổ chức sản xuất quy mô lớn.

Một nhà máy mới có thể tạo ra sản phẩm, nhưng chỉ khi làm chủ công nghệ, tiêu chuẩn, nghiên cứu và chuỗi cung ứng, một quốc gia mới tạo được lợi thế công nghiệp. Ảnh: Chinhphu.vn

Một nhà máy mới có thể tạo ra sản phẩm, nhưng chỉ khi làm chủ công nghệ, tiêu chuẩn, nghiên cứu và chuỗi cung ứng, một quốc gia mới tạo được lợi thế công nghiệp. Ảnh: Chinhphu.vn

Một quốc gia có thể sở hữu nhiều tài nguyên nhưng vẫn giữ vị trí thấp trong chuỗi giá trị nếu không làm chủ được công nghệ chế biến. Giá trị lớn nhất không nằm ở việc có bao nhiêu tài nguyên, mà nằm ở khả năng biến tài nguyên thành sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.

Đó cũng là lý do chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu không đặt trọng tâm vào khai thác thêm tài nguyên. Vấn đề cốt lõi là hình thành năng lực vật liệu quốc gia, từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử đến thương mại hóa công nghệ.

Sự chuyển dịch này đặt ra yêu cầu mới đối với nền công nghiệp Việt Nam: từ lợi thế tài nguyên sang năng lực vật liệu; từ xuất khẩu nguyên liệu sang chế biến sâu; từ tham gia từng công đoạn sang xây dựng các chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Điểm nghẽn nằm ở năng lực công nghệ

Thách thức lớn nhất của ngành vật liệu không còn nằm dưới lòng đất. Nó nằm trong phòng thí nghiệm, hệ thống tiêu chuẩn, dữ liệu vật liệu, năng lực nghiên cứu và những doanh nghiệp đủ khả năng đầu tư cho các dự án công nghiệp có thời gian thu hồi vốn dài.

Năng lực vật liệu không được quyết định bởi quy mô nhà máy, mà bởi khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị phía sau sản phẩm: từ nghiên cứu thành phần vật liệu, thử nghiệm, kiểm định chất lượng đến đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Vì vậy, trọng tâm của Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu không chỉ là xác định nhóm vật liệu ưu tiên. Thách thức lớn hơn là hình thành hệ sinh thái liên kết giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất, tổ chức tiêu chuẩn và thị trường.

Khoảng cách này quyết định khả năng tham gia của Việt Nam vào các ngành công nghiệp chiến lược như đường sắt tốc độ cao, bán dẫn, năng lượng tái tạo, điện hạt nhân và quốc phòng. Chưa làm chủ vật liệu, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài.

Khi chưa làm chủ vật liệu, khả năng tự chủ của các lĩnh vực này vẫn bị giới hạn bởi chuỗi cung ứng bên ngoài. Ngược lại, năng lực vật liệu được hình thành sẽ tạo nền móng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các ngành công nghệ cao.

Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam vì thế không chỉ là câu chuyện về một tuyến đường sắt, mà là phép thử đối với khả năng chuyển dịch của nền công nghiệp Việt Nam: từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ và vật liệu.

Những thanh ray dài 100 mét mang nhãn “Made in Vietnam”, nếu trở thành hiện thực, sẽ không chỉ đánh dấu bước tiến của ngành luyện kim, mà còn là chỉ dấu cho năng lực vật liệu quốc gia, nền tảng quyết định vị trí của Việt Nam trong cuộc cạnh tranh công nghiệp những thập niên tới.

Hai 'công cụ' trọng tâm: Bản đồ năng lực sản xuất vật liệu trong nước và bản đồ phụ thuộc nhập khẩu

Bộ Công Thương đang khẩn trương hoàn thiện Dự thảo Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành, dự kiến trong giai đoạn 2026–2027.

Theo tiến độ cập nhật tháng 7/2026, Bộ Công Thương đã tổ chức lấy ý kiến hoàn thiện đề cương Chiến lược vào ngày 7/7/2026. Sau bước này, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục xây dựng nội dung chi tiết, tổ chức thẩm định liên bộ trước khi trình Thủ tướng.

Điểm khác biệt của dự thảo lần này nằm ở yêu cầu tránh cách tiếp cận chung chung. Chiến lược phải xác định rõ những nhóm vật liệu chiến lược quốc gia cần ưu tiên, doanh nghiệp nào có khả năng dẫn dắt và Việt Nam có thể làm chủ công nghệ ở những khâu nào trong chuỗi giá trị.

Một yêu cầu quan trọng là xây dựng Bản đồ năng lực sản xuất vật liệu trong nước và bản đồ phụ thuộc nhập khẩu. Hai công cụ này được kỳ vọng sẽ chỉ ra những khoảng trống về công nghệ, nguồn cung và năng lực doanh nghiệp, từ đó xác định hướng đầu tư thay vì phát triển dàn trải.

Trong bối cảnh các ngành chiến lược như đường sắt tốc độ cao, bán dẫn, năng lượng mới và quốc phòng mở rộng, Việt Nam không chỉ cần thêm nhà máy vật liệu. Thách thức lớn hơn là xác định những mắt xích phải làm chủ để nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Hải Vân

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/cuoc-canh-tranh-bat-dau-tu-vat-lieu-116346.html