Thị trường Halal - cơ hội xuất khẩu cho sản phẩm Việt
Với hơn 2 tỷ người tiêu dùng và quy mô hàng ngàn tỷ USD, thị trường Halal đang trở thành “cánh cửa vàng” cho hàng Việt mở rộng xuất khẩu sang Trung Ðông, châu Phi và các nước có đông người theo đạo Hồi ở ASEAN.

Chế biến hạt điều xuất khẩu tại một nhà máy ở phường Long Bình, thành phố Đồng Nai. Ảnh: Lê Quyên
Với thế mạnh về nông nghiệp, chế biến thực phẩm và xuất khẩu, Đồng Nai đang đứng trước cơ hội mở thêm một hướng đi cho hàng hóa địa phương, song để biến tiềm năng thành đơn hàng, doanh nghiệp (DN) cần chuẩn bị nhiều hơn một giấy chứng nhận.
Cánh cửa xuất khẩu rộng mở
Thị trường Halal toàn cầu đang mở rộng nhanh cùng với sự gia tăng của tầng lớp trung lưu Hồi giáo và nhu cầu đối với những sản phẩm có nguồn gốc, quy trình sản xuất minh bạch. Riêng thị trường thực phẩm và đồ uống Halal hiện có quy mô khoảng 2 ngàn tỷ USD. Các lĩnh vực khác cũng tăng trưởng nhanh. Chẳng hạn, chi tiêu cho du lịch thân thiện với người Hồi giáo năm 2024 đạt khoảng 249 tỷ USD và dự báo tăng lên 424 tỷ USD vào năm 2029.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, dù cơ hội rộng mở song đây không phải là thị trường có thể tiếp cận bằng cách bổ sung một loại giấy chứng nhận vào bộ hồ sơ xuất khẩu. Halal đặt ra yêu cầu xuyên suốt đối với sản phẩm như: nguồn nguyên liệu, quá trình sản xuất, chế biến, vệ sinh, bao bì, bảo quản, vận chuyển đến truy xuất nguồn gốc.

Với lợi thế nhiều mặt hàng nông sản, Đồng Nai có cơ hội gia tăng xuất khẩu vào thị trường Halal.
Theo bà Nguyễn Thị Ninh, Phó Giám đốc kinh doanh và chăm sóc khách hàng, Công ty TNHH Chứng nhận Halal toàn cầu GHC (Thành phố Hồ Chí Minh), DN trước hết phải xác định thị trường mục tiêu, sau đó tìm hiểu yêu cầu cụ thể và lựa chọn chương trình chứng nhận phù hợp. Malaysia, Indonesia, Singapore hay các thị trường Trung Đông, các quốc gia khu vực vùng Vịnh (GCC) có những đặc điểm riêng, do DN cần tránh cách tiếp cận chung chung.
Do đó, DN cần phải thay đổi tư duy, thay vì chờ có đơn hàng mới chuẩn bị chứng nhận. DN cần xác định sản phẩm, thị trường và tiêu chuẩn ngay từ đầu. Khi đó, Halal trở thành một phần trong chiến lược phát triển sản phẩm và thị trường chứ không còn là thủ tục bổ sung ở cuối quy trình.
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2026/NĐ-CP, ngày 6-4-2026 về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal tạo thêm cơ sở pháp lý cho hoạt động này. Nghị định bao quát các nội dung về tiêu chuẩn, công bố tiêu chuẩn áp dụng, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, thử nghiệm và chứng nhận Halal; đồng thời tạo cơ sở triển khai chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal.
Sản xuất sản phẩm Halal cần
Đồng Nai là địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, chăn nuôi, chế biến thực phẩm và hoạt động xuất khẩu; đồng thời có hệ thống logistics và kết nối giao thông ngày càng hoàn thiện. Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Trịnh Thị Hòa cho rằng: Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, việc đa dạng hóa thị trường và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng quan trọng đối với DN. Thị trường Halal có thể mở thêm cơ hội cho những sản phẩm thế mạnh của Đồng Nai, nhất là nông sản và thực phẩm chế biến.
Kế hoạch số 76/KH-UBND, ngày 8-6-2026 của UBND thành phố Ðồng Nai về triển khai Nghị định số 127/2026/NÐ-CP của Chính phủ đã đặt ra nhiệm vụ lồng ghép phát triển Halal vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm của thành phố. Xác định các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm chế biến và dịch vụ du lịch Halal là các lĩnh vực trọng điểm cần ưu tiên phát triển.
Theo bà Trịnh Thị Hòa, để tiếp cận hiệu quả thị trường này, DN phải hiểu đầy đủ các yêu cầu liên quan đến: nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, bao bì, bảo quản, vận chuyển, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát nhiễm chéo và chứng nhận. Đối với hàng xuất khẩu, DN còn phải đáp ứng những quy định riêng của từng thị trường nhập khẩu.
Về sản phẩm, bà Nguyễn Thị Ninh cho rằng: Đồng Nai có thể ưu tiên những nhóm hàng đã có lợi thế như: chuối, bưởi, xoài, sầu riêng, hạt điều, cà phê, tiêu, mật ong và các sản phẩm thực phẩm chế biến từ nông sản. Malaysia và Indonesia là những thị trường đáng chú ý tại ASEAN; trong khi Singapore, Trung Đông và các nước GCC có thể mở ra những phân khúc có giá trị cao hơn.
Điểm cần thay đổi là không chỉ xuất khẩu nguyên liệu mà phải tăng tỷ lệ chế biến, xây dựng sản phẩm phù hợp với nhu cầu từng thị trường. Khi sản phẩm có chất lượng, nguồn gốc rõ ràng, bao bì phù hợp và chứng nhận đáp ứng yêu cầu, giá trị thương mại sẽ không còn phụ thuộc đơn thuần vào sản lượng.
Về phía DN, việc nắm bắt thông tin và đáp ứng các tiêu chuẩn đặc biệt quan trọng. Công ty Thương mại dịch vụ sản xuất kinh doanh Ngọc Bích (phường Long Thành), DN chăn nuôi, chế biến và phân phối gia cầm phải kiểm soát nguồn nguyên liệu, tổ chức sản xuất theo nguyên tắc một chiều, truy xuất từng lô hàng và đào tạo người lao động để hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến tính toàn vẹn Halal. Theo ông Lê Dương Hạnh, Giám đốc công ty, khó khăn hiện nay không chỉ là duy trì hệ thống sản xuất mà còn nằm ở việc tìm kiếm đối tác nhập khẩu, nhà phân phối và nguồn nhân lực phù hợp. DN mong muốn có thêm các chương trình xúc tiến thương mại và đào tạo chuyên sâu về Halal.
Khoảng cách từ “đạt chuẩn” đến “bán được hàng” vẫn còn khá lớn. Do đó, theo ông Rosat Thành Hải Sang, chuyên gia kỹ thuật của Công ty TNHH Chứng nhận Halal toàn cầu GHC, hệ sinh thái Halal cần được hình thành theo chuỗi, từ vùng nguyên liệu, nhà cung cấp, sản xuất, chứng nhận, logistics đến nhà nhập khẩu và phân phối. Đây cũng là phần việc cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, DN tổ chức chứng nhận và các đơn vị xúc tiến thương mại.


