Thị trường ngầm mua bán tài khoản ngân hàng - Bài cuối: Khi nào người bán bị truy cứu hình sự?
Bán tài khoản ngân hàng có thể bị xử phạt hành chính, nhưng nếu cố ý tạo điều kiện cho hoạt động phạm tội, người bán còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Ranh giới xử lý nằm ở đâu và căn cứ nào để xác định trách nhiệm của người bán?

Ảnh minh họa: AI
Ranh giới hành chính – hình sự
Việc bán tài khoản ngân hàng không đương nhiên dẫn đến trách nhiệm hình sự. Theo luật sư Nông Thị Ngọc (Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An), pháp luật không quy định tội danh độc lập mang tên "tội bán tài khoản ngân hàng". Muốn truy cứu hình sự, phải có căn cứ chứng minh hành vi của người bán đáp ứng các dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể. Ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự phải được xác định từ hành vi thực tế và chứng cứ của từng vụ việc.
Theo Điều 6 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán có thể bị xử phạt hành chính nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, hành vi liên quan từ 1 đến dưới 10 tài khoản bị phạt 100–150 triệu đồng đối với tổ chức; từ 10 tài khoản trở lên bị phạt 150–200 triệu đồng. Theo khoản 2 Điều 5 của nghị định này, mức phạt đối với cá nhân bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức, tương ứng 50–75 triệu đồng và 75–100 triệu đồng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 9/2/2026.

Công an TP Đà Nẵng xử phạt hành chính người bán tài khoản ngân hàng. Ảnh: CACC
Luật sư lưu ý, không có quy tắc cứ bán đến một số lượng tài khoản nhất định thì đương nhiên bị phạt tù. Số lượng tài khoản là căn cứ xác định khung xử phạt hành chính, còn việc truy cứu hình sự phải dựa vào dấu hiệu cấu thành của tội phạm cụ thể.
Với hành vi xảy ra trước ngày 9/2/2026, cần đối chiếu quy định có hiệu lực tại thời điểm vi phạm và các quy định chuyển tiếp liên quan, không mặc nhiên áp dụng khung xử phạt mới.
Một vấn đề khác cần làm rõ là trách nhiệm của người bán khi tài khoản phát sinh dòng tiền lớn. Theo luật sư Nông Thị Ngọc, tổng giá trị giao dịch qua tài khoản không đồng nghĩa với số tiền người đứng tên đã chiếm đoạt, hưởng lợi hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng.
Khi xác định trách nhiệm, cần phân biệt tiền có nguồn gốc từ tội phạm, khoản tiền luân chuyển qua tài khoản, tiền công bán tài khoản và khoản tiền người bán thực tế nhận, rút hoặc hưởng lợi. Chẳng hạn, tài khoản phát sinh tổng giao dịch 100 tỷ đồng không có nghĩa chủ tài khoản đã chiếm đoạt 100 tỷ đồng.
Các khoản tiền này có bản chất pháp lý khác nhau. Cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ nguồn gốc dòng tiền, người thực tế nhận hoặc hưởng lợi và mối liên hệ giữa hành vi của người bán với tội phạm được điều tra. Tổng doanh số giao dịch không thể tự nó trở thành căn cứ kết luận người bán đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền đó.
Khi nào người bán thành đồng phạm?
Người bán có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự khi hành vi không chỉ dừng ở việc giao tài khoản trái quy định mà còn thể hiện sự cố ý tham gia hoặc giúp sức cho một tội phạm cụ thể. Việc xác định trách nhiệm phải dựa trên vai trò và mức độ tham gia của từng người.
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Những người tham gia có thể giữ vai trò người tổ chức, người thực hành, người xúi giục hoặc người giúp sức.
Luật sư Nông Thị Ngọc phân tích, để xác định người bán tài khoản có phải là đồng phạm hay không, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh tội phạm cụ thể đã được thực hiện và người bán có sự cố ý tham gia hoặc giúp sức cho tội phạm đó.
Nếu người bán biết rõ tài khoản được dùng để nhận tiền của người bị lừa nhưng vẫn cung cấp tài khoản nhằm tạo điều kiện cho việc chiếm đoạt, họ có thể bị xem xét trách nhiệm đồng phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Luật sư Nông Thị Ngọc - Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An
Tương tự, nếu biết tài khoản được sử dụng phục vụ đánh bạc mà vẫn cố ý tạo điều kiện, người bán có thể bị xem xét trách nhiệm theo quy định về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, tùy hành vi thực tế và các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Đối với hành vi có dấu hiệu rửa tiền, cần làm rõ người bán có tham gia giao dịch nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản hoặc thực hiện hành vi khác đáp ứng dấu hiệu của tội rửa tiền theo Điều 324 Bộ luật Hình sự hay không. Tài khoản nhận tiền có nguồn gốc bất hợp pháp không đồng nghĩa người bán đương nhiên phạm tội rửa tiền.
Vai trò của từng người trong đường dây cũng phải được xác định từ hành vi thực tế, không chỉ dựa vào số lượng tài khoản đã bán. Một người trực tiếp bán một tài khoản không đương nhiên là người tổ chức đường dây.
Tuy nhiên, nếu người đó thực tế chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm, phân công người tham gia hoặc điều phối hoạt động phạm tội, họ có thể bị xem xét vai trò người tổ chức khi có đủ căn cứ theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Để xác định phạm tội có tổ chức, còn phải làm rõ sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
Để làm rõ các vấn đề này, cơ quan tiến hành tố tụng cần đối chiếu thỏa thuận mua bán, dữ liệu liên lạc và đăng nhập, sao kê giao dịch, nguồn tiền cùng thông tin về người trực tiếp nhận hoặc rút tiền.
Luật sư Nông Thị Ngọc nhấn mạnh, việc xác định trách nhiệm hình sự phải tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng.
Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự yêu cầu làm rõ hành vi phạm tội, người thực hiện, lỗi, động cơ, mục đích và hậu quả. Với người bán tài khoản, cần xác định họ biết gì về mục đích sử dụng, có cố ý tạo điều kiện hoặc tiếp tục hỗ trợ sau khi nhận ra dấu hiệu phạm tội hay không, và hành vi ấy liên quan thế nào đến tội phạm cụ thể.
Tên chủ tài khoản, tiền công hay giao dịch bất thường chỉ là tình tiết cần xác minh, không thay thế việc chứng minh dấu hiệu cấu thành tội phạm. Nếu không đủ căn cứ cho thấy người bán cố ý tham gia hoặc giúp sức, không thể chỉ từ những tình tiết này kết luận họ là đồng phạm.
Luật sư Nông Thị Ngọc cảnh báo, người đã bán hoặc giao tài khoản ngân hàng không nên im lặng vì lo sợ bị liên đới, càng không nên tiếp tục phối hợp thực hiện các giao dịch đáng ngờ. Khi phát hiện tài khoản có dấu hiệu bị lợi dụng, cần nhanh chóng thông báo ngân hàng để ngăn chặn giao dịch, trình báo cơ quan công an và cung cấp thông tin về người nhận tài khoản.
Người bán cần lưu giữ tin nhắn, lịch sử cuộc gọi, thỏa thuận mua bán, chứng từ nhận tiền, sao kê ngân hàng và thông tin về thời điểm, phạm vi đã giao quyền truy cập. Không tự ý xóa hoặc sửa đổi dữ liệu có thể phục vụ xác minh.
Việc chủ động trình báo, cung cấp chứng cứ có thể giúp làm rõ vai trò của người bán. Tuy nhiên, trình báo không đồng nghĩa được miễn trách nhiệm hình sự nếu có đủ căn cứ chứng minh người này đã cố ý tham gia hoặc giúp sức cho tội phạm. Trách nhiệm pháp lý vẫn được xác định trên cơ sở hành vi, lỗi, vai trò và chứng cứ của từng vụ việc.
