Thích ứng với thiên tai trong bảo tồn di sản
Sau trận lũ tháng 11/2025, đoạn tường Hoàng thành Huế dài khoảng 15m bị đổ sập nay đã được khôi phục. Dọc tuyến thành dài gần 3km này hiện vẫn còn hàng chục mét phải chống đỡ bằng khung thép, cho thấy những tác động ngày càng rõ của mưa lũ, nắng nóng, bão và sạt lở đối với hệ thống di tích hàng trăm năm tuổi của Huế.

Tường Hoàng thành Huế được chống đỡ bằng khung thép.
Sau trận lũ tháng 11/2025, một đoạn tường Hoàng thành Huế dài khoảng 15m bị đổ sập và nay đã được khôi phục sau gần một năm. Dọc tuyến thành dài gần 3 km này hiện vẫn còn hàng chục mét phải chống đỡ bằng khung thép, cho thấy những tác động ngày càng rõ của mưa lũ, nắng nóng, bão và sạt lở đối với hệ thống di tích hàng trăm năm tuổi của Huế.
Những tổn thương từ thiên tai
Trước năm 1993, nhiều công trình di tích Huế xuống cấp do chiến tranh, thời gian và thiên tai. Việc Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới mở ra giai đoạn mới trong công tác bảo tồn. Hàng loạt công trình được trùng tu, phục hồi, nhưng thời tiết khắc nghiệt vẫn thường xuyên tác động lên những kiến trúc đã tồn tại hàng trăm năm.
Thống kê sơ bộ cho thấy: Cửa An Hòa của Kinh thành Huế bị sét đánh gây hư hỏng năm 2008; Quốc Tử Giám xảy ra cháy vào mùa hè năm 2022; tại điện Huệ Nam, di tích nằm trên địa hình đồi dốc, phía trước hướng ra sông Hương, mưa lớn gây sạt lở phía sau khu điện từ những năm đầu 2020, trong khi khu vực ven sông phía trước bị xói lở. Những điểm có nguy cơ sạt lở, đá lăn được theo dõi và có phương án gia cố từ năm 2023. Trận lũ kéo dài tháng 11/2025 còn gây xói lở, sạt trượt một số kè đá tại khu vực kênh, hồ thuộc hệ thống di tích triều Nguyễn.
Sau khi đoạn tường của Hoàng thành bị đổ, ông Hoàng Việt Trung, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cho biết, qua khảo sát tại thời điểm đó, ở vị trí bị sập và những đoạn tường bị xô nghiêng, chất kết dính gần như không còn tác dụng do vật liệu đã mục mòn sau hàng trăm năm tồn tại.
Trước tình trạng xuống cấp, Ban Quản lý dự án di tích Cố đô Huế đã lên kế hoạch tu bổ, phục hồi. Dự kiến, tường Hoàng thành và kè đá hào nước quanh Đại Nội Huế được tu bổ với tổng kinh phí khoảng 80 tỷ đồng, trong đó phục hồi hơn 2.400m tường Hoàng thành và hơn 5.700m tường, lan-can kè đá hào nước.
Tư liệu thời Nguyễn ghi nhận các trận lũ lớn vào các năm 1844, 1864 và 1904, với khoảng cách giữa các trận lần lượt khoảng 20 và 40 năm. Trong khi đó, từ năm 1999 đến nay, Huế liên tục ghi nhận các trận lũ lớn vào các năm 1999, 2020, 2023 và 2025. Nhà Nguyễn chọn những khu vực cao ở phía tây Huế để xây dựng các lăng vua ở vị trí cao để hạn chế tác động của lũ. Mỗi lần lũ lớn, nước dâng làm ngập đường vào lăng, xói lở một số khu vực chân đồi, hồ cảnh quan ngập cục bộ. Nhưng ở khu vực đồng bằng, thời gian ngâm nước tại nhiều khu vực của thành phố và trong di tích đang có xu hướng kéo dài hơn so với trước. Hoàng thành Huế là dẫn chứng thấy rõ nhất.
Theo đánh giá của các kỹ sư xây dựng, khi nước thoát chậm, nền đất, chân tường, gạch đá và cảnh quan phải chịu tác động của độ ẩm lâu hơn. Với những cấu kiện đã suy yếu theo thời gian, mỗi lần ngâm nước kéo dài lại làm tăng thêm áp lực. Thời gian ngâm nước cần được xem là yếu tố riêng trong đánh giá nguy cơ xuống cấp của di sản, bên cạnh tần suất, mực nước và cường độ lũ.
Giữ những lớp bảo vệ di tích
Trước mùa mưa bão, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế triển khai gia cố, neo giữ, kiểm tra mái, tường, kè và các vị trí xung yếu; đồng thời cắt tỉa cây có nguy cơ gãy đổ. Tuy nhiên, bảo vệ di sản trước thiên tai không chỉ là sửa chữa công trình sau khi hư hại. Theo ông Lê Công Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, công tác này cần sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ và phải tính đến cả cây xanh, cảnh quan. Những cây cổ thụ được kiểm tra, đánh giá để vừa bảo đảm an toàn, vừa giữ giá trị cảnh quan.
Huế cũng đã tổ chức các hội thảo, tọa đàm với chuyên gia Nhật Bản, Hàn Quốc về thích ứng với thiên tai trong bảo tồn di sản. Các chuyên gia cho thấy phương pháp ứng phó cần được lựa chọn theo đặc điểm từng di tích, không có một công thức chung. Theo ông Sơn, công nghệ hiện đại có thể hỗ trợ, nhưng giải pháp phải phù hợp với từng di tích và kế thừa kinh nghiệm địa phương.
Kiến trúc sư Nguyễn Thanh Tùng, người có nhiều nghiên cứu về di tích Huế, cho rằng vùng đệm quanh di tích cũng cần được tính toán như một lớp bảo vệ. Những khu vực này cần hạn chế xây dựng, ưu tiên không gian xanh và địa hình tự nhiên. Cùng với đó, cần tăng khả năng tiêu, thoát nước trong và quanh khu di tích, nhất là những khu vực thấp thường xuyên chịu tác động của ngập. Hệ thống thoát nước cần được rà soát, khơi thông và tổ chức phù hợp với địa hình, cảnh quan, để nước được đưa ra khỏi khuôn viên nhanh hơn sau mưa lũ.
Theo ông Tùng, trong quá trình xây dựng các công trình thời Nguyễn, có thể yếu tố vùng đệm chưa được đặt ra như một yêu cầu riêng trong bảo vệ di tích trước thiên tai. Khi đó, nhiều khu vực chung quanh có thể vẫn là rừng hoặc được bao phủ bởi thảm thực vật tự nhiên, tạo nên một lớp đệm mà không cần tổ chức như hiện nay. Theo thời gian, không gian này thay đổi, cùng với sự phát triển của giao thông, nhà ở và các công trình mới. Đây là yếu tố cần được tính đến khi tổ chức vùng đệm và cảnh quan trong bảo tồn di sản trước thiên tai.
Gia cố công trình trước mùa mưa bão là việc cần làm thường xuyên, nhưng khả năng chống chịu lâu dài của di sản còn phụ thuộc vào cách quản lý không gian chung quanh. Giữ vùng đệm, kiểm soát sử dụng đất, bảo vệ địa hình, cây xanh, mặt nước và hệ thống thoát nước là những lớp bảo vệ bổ sung cho di tích. Khi mưa lũ diễn biến khó lường, đánh giá đồng thời tần suất, độ cao, thời gian ngập và thời gian nước lưu lại trong khuôn viên sẽ giúp công tác bảo tồn chủ động hơn.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/thich-ung-voi-thien-tai-trong-bao-ton-di-san-post993908.html


