Thiết kế mặt đường biển đảo trước thách thức môi trường khắc nghiệt

Trước những tác động đồng thời của bão, nước biển, nền đất đặc thù và hạn chế hậu cần, thiết kế mặt đường tại các đảo, quần đảo Việt Nam cần cách tiếp cận tổng thể, kết hợp kết cấu, vật liệu, thoát nước và khả năng bảo trì trong suốt vòng đời công trình.

Ngày 28/10/2026, Bộ môn Đường bộ – Sân bay, Khoa Công trình và Môi trường, Trường Đại học Giao thông vận tải tổ chức tọa đàm khoa học “Thiết kế và xây dựng mặt đường bền vững cho các đảo và quần đảo Việt Nam”. Chương trình tập trung trao đổi về đặc điểm khí hậu, môi trường biển, lựa chọn vật liệu, kết cấu mặt đường, công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao độ bền lâu cho các công trình giao thông tại khu vực biển đảo.

Tọa đàm có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia cùng đại diện cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn thiết kế, nhà thầu, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp vật liệu, công nghệ. Các báo cáo chuyên đề đề cập từ cơ sở dữ liệu khí hậu phục vụ thiết kế, ảnh hưởng của nước biển đến vật liệu mặt đường đến kinh nghiệm triển khai các dự án thực tế và yêu cầu về độ bền của mặt đường bê tông xi măng, sân bay trên đảo.

Quang cảnh tọa đàm khoa học “Thiết kế và xây dựng mặt đường bền vững cho các đảo và quần đảo Việt Nam”.

Quang cảnh tọa đàm khoa học “Thiết kế và xây dựng mặt đường bền vững cho các đảo và quần đảo Việt Nam”.

Thiết kế mặt đường biển đảo cần tiếp cận theo rủi ro

Một trong những nội dung trọng tâm của tọa đàm là định hướng thiết kế cấu tạo mặt đường bền vững cho khu vực biển, đảo Việt Nam do PGS.TS. Trần Nam Hưng, Học viện Kỹ thuật quân sự cho rằng, mặt đường trên đảo không chỉ là hạ tầng giao thông phục vụ đi lại, mà còn giữ vai trò trong bảo đảm dân sinh, hậu cần, y tế, cứu hộ, cứu nạn và kết nối hàng không – hàng hải. Trong điều kiện mạng lưới giao thông ít có phương án dự phòng, hư hỏng một tuyến đường, cảng hoặc đường cất hạ cánh có thể ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của toàn đảo.

Theo ông Hưng, khác với khu vực đất liền, công trình giao thông biển đảo chịu tác động đồng thời của nhiệt độ cao, bức xạ mặt trời, mưa cực đoan, bão, triều cường, sóng tràn, nước biển và sol khí muối. Nền cát, nền san hô cùng mực nước ngầm biến động theo thủy triều cũng tạo ra những cơ chế hư hỏng riêng. Trong khi đó, việc vận chuyển vật liệu, thiết bị và huy động nhân lực sửa chữa thường gặp nhiều hạn chế.

Vì vậy, chỉ tăng chiều dày kết cấu hoặc lựa chọn vật liệu có cường độ cao chưa đủ để bảo đảm tuổi thọ công trình. Thiết kế cần đồng thời giải quyết bài toán thoát nước, giải phóng áp lực nước – khí, chống xói mép nền, hạn chế ăn mòn và bảo đảm khả năng phục hồi sau các hiện tượng thời tiết cực đoan", PGS.TS. Trần Nam Hưng, chia sẻ.

PGS.TS. Trần Nam Hưng, Học viện Kỹ thuật quân sự tại buổi tọa đàm.

PGS.TS. Trần Nam Hưng, Học viện Kỹ thuật quân sự tại buổi tọa đàm.

Báo cáo đề xuất nghiên cứu khung phân cấp mức độ phơi nhiễm môi trường biển đảo MIPEC, kết hợp với cấp độ hậu cần và mức độ trọng yếu của công trình để lựa chọn phương án kết cấu phù hợp. Đây là hướng tiếp cận nhằm hỗ trợ sàng lọc giải pháp thiết kế theo điều kiện thực tế, không thay thế các bước tính toán, kiểm toán kết cấu theo tiêu chuẩn hiện hành.

Carboncor Asphalt và bài toán vật liệu trong điều kiện nước biển

Một nội dung đáng chú ý tại tọa đàm là nghiên cứu ảnh hưởng của nước biển đến độ ổn định và độ dẻo Marshall của vật liệu Carboncor Asphalt, cùng báo cáo tổng hợp các dự án đảo đã sử dụng vật liệu này.

Theo tài liệu nghiên cứu được cung cấp, hỗn hợp Carboncor Asphalt CA 9,5 được thí nghiệm ngâm trong nước biển đến 360 ngày. Kết quả cho thấy sau thời gian ngâm, độ ổn định Marshall còn lại đạt 71,5% khi thử ở 25°C và 59,2% khi thử ở 60°C. Các số liệu phản ánh sự suy giảm đặc tính vật liệu trong môi trường biển, đồng thời gợi mở khả năng tiếp tục nghiên cứu, đánh giá ứng dụng trong điều kiện hậu cần hạn chế.

Báo cáo của TS. Nguyễn Văn Tường, - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Carbon Việt Nam cho biết, việc sử dụng Carboncor Asphalt tại 11 địa danh biển đảo, ven biển, với tổng chiều dài được công bố là 68 km. Danh sách gồm Cô Tô, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Minh Châu, Cái Chiên, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Hòn Sơn, Nam Du, Phú Quý và Cần Giờ.

Tuy nhiên, kết quả thí nghiệm vật liệu và kinh nghiệm ứng dụng thực tế cần được đánh giá đúng phạm vi. Tài liệu nghiên cứu lưu ý rằng độ ổn định Marshall có suy giảm trong quá trình ngâm; thử nghiệm ngâm liên tục cũng không hoàn toàn tương đương với điều kiện khai thác thực tế. Do đó, cần tiếp tục kiểm chứng độ bền dài hạn, thực hiện các thử nghiệm đối chứng và theo dõi công trình trước khi mở rộng phạm vi ứng dụng.

Vật liệu Carboncor Asphalt có khả năng chông chịu trước những thách thức của nước biển

Vật liệu Carboncor Asphalt có khả năng chông chịu trước những thách thức của nước biển

Tọa đàm tạo diễn đàn trao đổi giữa giới nghiên cứu, cơ quan quản lý và doanh nghiệp về một bài toán kỹ thuật có ý nghĩa lâu dài đối với hạ tầng giao thông biển đảo. Mục tiêu không chỉ là xây dựng mặt đường có khả năng chịu tải, mà còn là phát triển những công trình phù hợp điều kiện tự nhiên, có thể thi công, bảo trì và phục hồi hiệu quả trong môi trường khai thác đặc thù.

•  Phan Chính

Nguồn Doanh Nhân Trẻ: https://doanhnhantrevietnam.vn/thiet-ke-mat-duong-bien-dao-truoc-thach-thuc-moi-truong-khac-nghiet-d29324.html