Thiết lập cơ chế kiểm soát vấn đề giới trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh nhấn mạnh, Luật về văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là luật về thể chế và quy trình, không trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ, điều kiện hoặc tiêu chuẩn khác nhau giữa nữ và nam. Vì vậy, trọng tâm lồng ghép giới không chỉ là bảo đảm câu chữ trung tính, mà là thiết lập cơ chế để vấn đề giới và tác động khác biệt đối với mỗi giới được nhận diện, phân tích, tham vấn và kiểm soát trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành từng VBQPPL.

Bình đẳng giới là tiêu chí pháp lý lựa chọn chính sách, xây dựng và thi hành văn bản

Sáng 26/8, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tổ chức cuộc họp chuyên gia về việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật về VBQPPL.

Báo cáo nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật về VBQPPL tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết, Luật về VBQPPL là luật về thể chế và quy trình, không trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ, điều kiện hoặc tiêu chuẩn khác nhau giữa nữ và nam.

Vì vậy, trọng tâm lồng ghép giới không chỉ là bảo đảm câu chữ trung tính, mà là thiết lập cơ chế để vấn đề giới và tác động khác biệt đối với mỗi giới được nhận diện, phân tích, tham vấn và kiểm soát trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành từng VBQPPL.

Thông tin cụ thể, Thứ trưởng cho biết, dự thảo Luật kế thừa các nội dung của Luật Ban hành VBQPPL hiện hành về nguyên tắc bảo đảm bình đẳng giới, đánh giá tác động về giới, thể hiện kết quả lồng ghép trong hồ sơ và kiểm soát qua thẩm định, thẩm tra; đồng thời hoàn thiện sự liên kết giữa các yêu cầu này từ khâu xây dựng chính sách đến tổ chức thi hành.

Trong đó, xác lập bình đẳng giới là nguyên tắc xuyên suốt. Khoản 5 Điều 5 dự thảo Luật quy định nguyên tắc: “Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả”.

Nguyên tắc này áp dụng đối với việc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành mọi hình thức văn bản ở trung ương và địa phương, kể cả văn bản được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn hoặc trong trường hợp đặc biệt.

Qua đó, bình đẳng giới được xác định là tiêu chí pháp lý trong việc lựa chọn chính sách, xây dựng và tổ chức thi hành VBQPPL.

Về nhận diện và đánh giá tác động về giới ngay từ khâu xây dựng chính sách, tại điểm d khoản 2 Điều 26 của dự thảo Luật, nội dung dự thảo chính sách phải được thể hiện cụ thể, rõ ràng, trong đó bắt buộc xác định rõ “Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, nhóm đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện chính sách”. Đây là cơ sở để phân tách đối tượng theo giới khi cần thiết, nhận diện sự khác biệt về hoàn cảnh, nhu cầu, khả năng tiếp cận và thụ hưởng giữa phụ nữ và nam giới, tránh đánh giá trên một đối tượng giả định chung.

Bên cạnh đó, tại điểm b khoản 2 Điều 27 của dự thảo Luật, quy định việc tích hợp nội dung về giới vào đánh giá tác động kinh tế - xã hội: “Tác động về kinh tế - xã hội được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo chi phí, lợi ích, tác động tích cực, tiêu cực về một hoặc một số nội dung liên quan đến sản xuất, kinh doanh, việc làm, dân tộc, tôn giáo, giới, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường, phát triển bền vững, quốc phòng, an ninh, phân quyền, phân cấp, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế - xã hội”.

“So với Luật hiện hành quy định tác động về giới là một nội dung đánh giá độc lập, cách tiếp cận này gắn phân tích giới với chi phí, lợi ích và các hệ quả thực tế về việc làm, thu nhập, tiếp cận dịch vụ, mức độ thụ hưởng; qua đó hạn chế tình trạng đánh giá chung chung, hình thức, tách rời dữ liệu kinh tế - xã hội. Việc tích hợp không loại trừ yêu cầu phân tích riêng khi chính sách có khả năng tạo ra tác động khác biệt đối với nữ và nam”, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh nhấn mạnh.

Tại khoản 3 Điều 27 của dự thảo Luật cũng quy định rõ: Đối với dự thảo luật, pháp lệnh thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này, trước khi biểu quyết thông qua, nếu bổ sung chính sách mới thì cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức đánh giá tác động của chính sách đó. Do đó, nghĩa vụ xem xét tác động giới được duy trì cả đối với chính sách phát sinh sau giai đoạn đề xuất ban đầu.

Về thể hiện kết quả lồng ghép giới trong hồ sơ và kiểm soát qua thẩm định, thẩm tra, tại điểm a khoản 4 Điều 31 của dự thảo Luật, yêu cầu dự thảo tờ trình kèm phụ lục nêu rõ việc thể chế chủ trương, đường lối của Đảng, rà soát VBQPPL, điều ước quốc tế có liên quan, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có) và so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện hành.

Cùng với báo cáo đánh giá tác động của chính sách và các tài liệu khác trong hồ sơ, quy định này bảo đảm kết quả rà soát, phân tích về giới được thể hiện trong hồ sơ chính thức để phục vụ lấy ý kiến, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra và xem xét, thông qua. Việc tích hợp hồ sơ nhằm giảm đầu mục tài liệu, nhưng không làm giảm nội dung bắt buộc phải phân tích, giải trình theo pháp luật về bình đẳng giới.

Công tác kiểm soát qua thẩm định, thẩm tra được hiến định và chuẩn hóa được cụ thể tại điểm e khoản 4 Điều 29 xác định việc bảo đảm bình đẳng giới là một nội dung bắt buộc trong thẩm định chính sách.

Điểm e khoản 4 Điều 32 tiếp tục xác định đây là nội dung thẩm định dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình. Còn điểm g khoản 4 Điều 35 quy định rõ việc bảo đảm bình đẳng giới là nội dung thẩm tra chính thức của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

"Như vậy, dự thảo hình thành đầy đủ hệ thống kiểm soát chặt chẽ về bình đẳng giới qua các giai đoạn: cơ quan lập đề xuất tự đánh giá, Bộ Tư pháp kiểm soát ở khâu thẩm định, và các cơ quan của Quốc hội kiểm soát ở khâu thẩm tra", Thứ trưởng chỉ ra.

Dự thảo Luật cũng quy định bảo đảm sự tham gia của đối tượng chịu tác động và tổ chức đại diện. Theo đó, các Điều 28 và 31 quy định việc lấy ý kiến, tham vấn, phản biện xã hội và công khai tiếp thu, giải trình; yêu cầu sự tham gia của đối tượng chịu tác động trực tiếp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, chuyên gia, nhà khoa học và chủ thể có liên quan.

Đây là cơ sở để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tổ chức đại diện cho các nhóm phụ nữ, chuyên gia về giới và các nhóm chịu tác động cung cấp thông tin, phản ánh những tác động khác biệt mà phân tích thuần túy pháp lý có thể chưa nhận diện đầy đủ.

Thiết lập cơ chế theo dõi thi hành, phản ứng chính sách

Về kiểm soát tác động trong tổ chức thi hành và bảo đảm nguồn lực, dự thảo Luật bổ sung mới nhiều điều về tổ chức thi hành VBQPPL, trong đó thiết lập cơ chế theo dõi thi hành, đánh giá hiệu quả, xử lý phản ánh, kiến nghị và phản ứng chính sách.

Cụ thể, tại Điều 57 và khoản 3 Điều 58 dự thảo Luật, xác định theo dõi thi hành, đánh giá hiệu quả thi hành, xử lý phản ánh, kiến nghị là các nội dung của tổ chức thi hành VBQPPL, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia cung cấp thông tin giám sát.

Các đại biểu tại cuộc họp.

Các đại biểu tại cuộc họp.

Tại Điều 61 và Điều 66, Điều 67 dự thảo Luật, ghi nhận quyền gửi phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân, đồng thời yêu cầu đánh giá mức độ đạt mục tiêu chính sách, tác động kinh tế - xã hội và thực hiện phản ứng chính sách kịp thời. Các cơ chế này cho phép phát hiện tác động bất lợi hoặc chênh lệch về thụ hưởng giữa các giới trong thực tiễn để kịp thời điều chỉnh biện pháp tổ chức thi hành, hướng dẫn áp dụng, kiểm tra, rà soát hoặc sửa đổi văn bản.

Bên cạnh đó, tại các Điều 70, 71 và 72 dự thảo Luật, quy định rõ cơ chế cho phép cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra và cơ quan được tham vấn thuê chuyên gia, tổ chức điều tra, khảo sát, hội thảo, tọa đàm và đánh giá tác động; thu hút chuyên gia, nhà khoa học, người có kinh nghiệm thực tiễn, ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí. Đây là nền tảng pháp lý vững chắc để sử dụng chuyên gia về giới, thu thập dữ liệu phân tách theo giới và bố trí nguồn lực cho biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới khi cần thiết.

Đánh giá tác động về giới của dự án Luật, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh chỉ rõ, về tác động trực tiếp, dự thảo không quy định quyền, nghĩa vụ, điều kiện, tiêu chuẩn hoặc biện pháp xử lý khác nhau theo giới; không hạn chế sự tham gia hoặc thụ hưởng của nữ và nam. Qua rà soát, chưa phát hiện quy định làm phát sinh tác động trực tiếp bất lợi hoặc phân biệt đối xử về giới.

Về tác động gián tiếp, dự án Luật có tác động tích cực do thiết lập cơ chế sàng lọc, phân tích, tham vấn và kiểm soát vấn đề giới trong các chính sách, VBQPPL thuộc mọi lĩnh vực; góp phần phòng ngừa quy định tạo ra hệ quả khác biệt đối với nữ và nam.

Về khả năng tiếp cận và tham gia, cơ chế công khai hồ sơ, lấy ý kiến, phản biện xã hội và tham vấn tạo điều kiện để mỗi giới, tổ chức đại diện và chuyên gia về giới tham gia quá trình xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, khi đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số cần tính đến khoảng cách số đối với phụ nữ ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật và các nhóm có điều kiện tiếp cận công nghệ còn hạn chế.

Về trách nhiệm và nguồn lực, dự thảo đã xác định trách nhiệm của cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra và cơ quan tổ chức thi hành; đồng thời tạo cơ sở huy động chuyên gia, điều tra, khảo sát, đào tạo và bố trí kinh phí để giải quyết vấn đề giới.

Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh nhấn mạnh, trên cơ sở rà soát, dự án Luật không làm phát sinh tác động trực tiếp bất lợi về giới và đã hình thành các cơ chế phòng ngừa, nhận diện, kiểm soát tác động gián tiếp. Hiệu quả thực tế của việc lồng ghép giới sẽ phụ thuộc vào chất lượng sàng lọc, dữ liệu phân tách theo giới, sự tham gia của đối tượng chịu tác động và việc bố trí đầy đủ trách nhiệm, nguồn lực trong quá trình tổ chức thực hiện.

Do đó, trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý và xây dựng văn bản quy định chi tiết (như tại Điều 43 của dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết), cần tiếp tục bảo đảm sàng lọc tác động giới đối với mọi chính sách, dự thảo. Trường hợp xác định có vấn đề giới thì phải phân tích riêng về cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng của mỗi giới; sử dụng thông tin, số liệu phân tách theo giới khi có liên quan và xác định biện pháp, trách nhiệm, nguồn lực phù hợp.

Dự án Luật về VBQPPL được xây dựng để thay thế Luật Ban hành VBQPPL, kế thừa các quy định còn phù hợp và được xây dựng trên cơ sở quy phạm hóa 5 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 227/NQ-CP ngày 13/8/2026. Dự thảo gồm 10 chương, 74 điều, điều chỉnh hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành VBQPPL; Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027 theo định hướng tại Kết luận số 09-KL/TW.

Tường Minh

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/thiet-lap-co-che-kiem-soat-van-de-gioi-trong-xay-dung-ban-hanh-va-to-chuc-thi-hanh-van-ban.html