Thơ có gần với triết học không?

Thời gian qua, dư luận văn chương trao đi đổi lại nhiều về thi ca và người làm thơ. Thế mới biết, thi ca là khát vọng vĩnh hằng của con người, từ thời Homer đến Nguyễn Du, từ Tagore, Pablo Neruda, đến Xuân Diệu, Chế Lan Viên... con người viết thơ để giữ lại cái đẹp, cái đau, cái yêu, cái mất mát là những điều ngôn ngữ thông thường không đủ sức chứa.

Thi ca vì thế là nơi trú ẩn của tâm hồn, và đồng thời là ngọn lửa của nhân sinh. Thi ca là nghệ thuật của ngôn từ được thăng hoa bởi cảm xúc, tưởng tượng và nhịp điệu, để con người chạm vào vẻ đẹp và ý nghĩa sâu xa của đời sống.

Thơ gần với minh triết hơn triết học thuần túy

Có bạn yêu thơ hỏi tôi: "Thơ có gần với triết học không?", đây là một câu hỏi vừa giản dị vừa sâu sắc. Tôi có thể trả lời ngắn gọn: Thơ rất gần với triết học, nhưng không trùng với triết học. Hai lĩnh vực này gặp nhau ở chiều sâu tư tưởng, ở khát vọng đi tìm bản chất của con người và thế giới, song khác nhau ở con đường biểu đạt và phương thức tiếp cận chân lý.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

Trước hết, thơ và triết học cùng chung một điểm xuất phát là sự kinh ngạc trước tồn tại. Triết học bắt đầu từ câu hỏi "Ta là ai?", "Thế giới là gì?", "Sống để làm gì?", thì thơ cũng khởi sinh từ những rung động trước đời sống, từ khát vọng hiểu và cảm cái vô hạn trong hữu hạn. Nhiều bài thơ lớn thực chất là những suy tư triết học được biểu đạt bằng hình tượng và cảm xúc. Như Hlderlin từng nói: "Thi sĩ là kẻ nói thay các vị thần", còn Heidegger khẳng định: "Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể" và thơ chính là hình thức tinh ròng nhất của ngôn ngữ ấy.

Tuy nhiên, con đường của thơ khác con đường của triết học. Triết học tiếp cận chân lý bằng khái niệm, lập luận, hệ thống hóa tư tưởng, còn thơ tiếp cận chân lý bằng hình ảnh, nhịp điệu, cảm xúc và trực giác. Triết học muốn hiểu chân lý, còn thơ muốn chạm vào chân lý. Vì thế, nếu triết học nói: "Bản thể là vô thường", thì thơ có thể nói: "Một chiếc lá rơi/ đủ làm nghiêng mùa thu".

Cùng một ý niệm, nhưng một bên là luận đề, bên kia là sự rung động. Chính ở điểm này, thơ thường gần với minh triết hơn là triết học thuần lý. Trong truyền thống phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Lão - Trang và Phật giáo, chân lý tối hậu không thể diễn đạt trọn vẹn bằng khái niệm mà chỉ có thể gợi mở bằng ẩn dụ, công án, hình ảnh. Thơ vì thế trở thành một hình thức tư duy triết học đặc biệt là triết học của cảm giác, trực giác và chiêm nghiệm. Nhiều bài thơ lớn không giải thích thế giới mà giúp con người sống sâu hơn trong thế giới ấy.

Ở chiều ngược lại, nhiều triết gia lớn cũng viết với tinh thần thi ca như Nietzsche, Kierkegaard, Heidegger… đều sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nghịch lý và biểu tượng, bởi họ nhận ra rằng có những chân lý mà chỉ thơ mới nói được. Điều này cho thấy ranh giới giữa thơ và triết học không phải là bức tường cứng, mà là một vùng giao thoa.

Từ đó ta có thể nhân ra triết học là thơ của lý trí, và thơ là triết học của trái tim. Hai con đường khác nhau, nhưng cùng hướng về một đích đến là khám phá ý nghĩa tồn tại, khơi mở chiều sâu tinh thần con người, và giúp con người sống tỉnh thức hơn giữa đời sống hữu hạn.

Vì thế, khi có người hỏi: "Thơ có gần với triết học không?", tôi trả lời rằng: thơ không phải là triết học, nhưng thơ là người bạn tâm giao của triết học, là nơi tư tưởng trở thành cảm xúc, và chân lý trở thành ánh sáng thẩm mỹ. Để giải mã vấn đề trên, tôi cũng góp phần lý giải bằng bài lục bát "Chợt nghĩ về thơ" dưới đây để chúng ta cùng chiêm nghiệm:

Thật ra. Thơ sẽ là gì
Thơ. Là ngọn khói vô vi. Bên chùa
Mái chùa. Chợt hửng nắng trưa
Thơ là ngọn nắng. Người xưa kiếm tìm

Thật tình. Thơ vốn lặng im
Vô thanh chữ nghĩa. Dọc miền ca dao
Người thơ. Ngẫu hứng. Cồn cào
Đọc thơ. Như thể. Đọc vào hư vô

Thật rằng. Thơ chỉ là thơ
Trái tim vượt khỏi. Bến bờ vô minh
Cõi u mê. Chạm cõi tình
Thơ vào cõi ấy. Xem mình yêu nhau

Thật lòng. Tới cõi khổ đau
Thơ là ngọn nến. Nhiệm màu xót xa
Cháy một mình. Cứu rỗi ta
Cháy từng chữ cháy. Sáng ra kiếp người

Thật buồn. Người héo. Thơ tươi
Nỗi đau tím tái. Nỗi đời thường xanh
Trầm luân. Dưới đáy vô danh
Thơ vô ngã. Bất biến thành. Vô ưu

Ở bài thơ trên, tôi không chỉ nghiêng về cảm xúc mà hướng tới một chiều suy ngẫm khác của suy tưởng về thơ, về bản thể, ý nghĩa và sứ mệnh của thi ca. Đây là một bài thơ ngắn có thể coi là sự kết tinh giữa thi cảm phương Đông, mỹ học Phật giáo và ý thức hiện sinh hiện đại.

Thi ca là hành trình vượt qua bến bờ vô minh

Bài thơ trên mở ra bằng một câu hỏi đơn sơ: "Thật ra. Thơ sẽ là gì". Không phải "thơ là gì", mà là "sẽ là gì" như câu hỏi hướng về tương lai, về bản thể chưa hoàn tất, về khả năng mở của thơ. Ở đây, tôi không đặt thơ vào một định nghĩa đóng, mà đặt nó trong trạng thái vận động, truy vấn, như chính tư duy triết luận phương Đông là chân lý không bao giờ cố định, mà luôn hiển lộ trong quá trình chiêm nghiệm.

Các tác phẩm thơ ra mắt rầm rộ hàng năm.

Các tác phẩm thơ ra mắt rầm rộ hàng năm.

Ngay sau đó, tôi không trả lời bằng khái niệm, mà bằng hình ảnh:

Thơ. Là ngọn khói vô vi. Bên chùa
Mái chùa. Chợt hửng nắng trưa
Thơ là ngọn nắng. Người xưa kiếm tìm

Ở đây, thơ được ví như khói vô vi, nắng chùa, những thực thể mong manh, vô định, không nắm bắt được. "Vô vi" là một thuật ngữ triết học Lão - Phật, chỉ trạng thái tự nhiên, không cưỡng cầu, không chủ ý, tồn tại như chính nó. Thơ, theo tôi, không phải là sản phẩm của lý trí thuần túy hay kỹ thuật, mà là một dạng hiển lộ tinh thần, xuất hiện như ánh nắng chợt hửng trên mái chùa, nó bất ngờ, tinh khôi và siêu vượt toan tính.

Như vậy, ngay từ khổ đầu, bài thơ đã đặt thơ vào vùng giao thoa giữa cảm thức thiền và trực giác nghệ thuật khi thơ không được "làm ra", mà được "ngộ ra". Sang khổ thơ thứ hai, tôi tiếp tục đào sâu bản thể của thơ:

Thật tình. Thơ vốn lặng im
Vô thanh chữ nghĩa. Dọc miền ca dao
Người thơ. Ngẫu hứng. Cồn cào
Đọc thơ. Như thể. Đọc vào hư vô

Ở đây, có sự nghịch lý hóa bản chất của thơ khi thơ được tạo nên bằng ngôn ngữ, nhưng lại là "vô thanh chữ nghĩa". Đây là một quan niệm rằng ngôn từ chỉ là phương tiện, còn bản thể của thơ nằm ở cái không nói được, cái vượt ra ngoài ký hiệu.

Câu thơ "Đọc thơ. Như thể. Đọc vào hư vô" mang dấu hiệu triết luận. "Hư vô" ở đây không phải là trống rỗng tiêu cực, mà là trạng thái của tính không trong Phật giáo, nơi mọi hình tướng tan biến để bản thể sâu xa hiển lộ. Đọc thơ là bước vào cõi không lời, không hình, không khái niệm, là một hành trình thiền định hơn là tiếp nhận thông tin. Như vậy, thơ không phải để "hiểu" theo nghĩa lý trí, mà để "ngộ" ra một hình thức tiếp cận mang màu sắc thiền học và mỹ học trực giác.

Khổ thơ thứ ba, là một chiều kích khác của mỹ học thi ca:

Thật rằng. Thơ chỉ là thơ
Trái tim vượt khỏi. Bến bờ vô minh
Cõi u mê. Chạm cõi tình
Thơ vào cõi ấy. Xem mình yêu nhau.

Ở đây, thơ được nhìn như một con đườngvượt khỏi vô minh, một hành trình chuyển hóa tâm thức. “Vô minh” là gốc rễ của khổ đau trong Phật giáo, vượt khỏi vô minh là đạt tới tỉnh thức. Thơ trở thànhkhông gian của yêu thương, nơi con người soi thấy nhau trong bản thể sâu xa nhất, vượt lên mọi phân biệt, chia cắt.

Khổ thơ thứ tư hướng vào ánh nến trong khổ đau với mỹ học cứu rỗi. Ở đây, thơ hiện lên như ngọn nến trong đêm tối, một hình ảnh mang tính biểu tượng phổ quát trong triết luận và tôn giáo dù ánh sáng nhỏ bé nhưng đủ để phá tan bóng tối. Điều đặc biệt là ngọn nến ấy “cháy một mình” khi thơ tự hủy mình để soi sáng đời người, giống như nghệ thuật chân chính luôn là sự tự hiến thầm lặng. Và thơ chính là một hình thức cứu rỗi thế tục, không phải bằng giáo lý cứng nhắc, mà bằng sự rung động thẩm mỹ và tình thương nhân bản khi nghệ thuật không chỉ để thưởng thức, mà để cứu chuộc.

Khổ thơ cuối xác lập một nghịch lý: dù con người có thể héo úa, đau khổ, vô danh, nhưng thơ thì vẫn “tươi”, “xanh”, vượt lên mọi suy thoái của đời sống.

Bài thơ là một quan niệm về thơ như thực thể vô vi, vô thanh, vô ngã và vô ưu, như con đường vượt vô minh, như phương tiện cứu rỗi khổ đau và không gian tinh thần của tình yêu nhân bản. Và, các bạn có thể thấy thơ gần với triết luận hơn là triết học thuần túy.

Nguyễn Việt Chiến

Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/ly-luan/tho-co-gan-voi-triet-hoc-khong--i795709/