Thời đại bành trướng nông nghiệp của lịch sử loài người
Một sử gia hàng đầu đã chỉ ra, việc tự trồng lương thực ở Italy vào giai đoạn Sơ kỳ Trung đại “vừa là một điều cần thiết, vừa là một điều xa xỉ".

Tác giả: Peter Frankopan/NXB Tri Thức-Omega Plus Books
Trái đất chuyển mình
Một cuốn sách đồ sộ bao trùm lịch sử trái đất, lịch sử nhân loại và lịch sử môi trường, khí hậu trong 4,5 tỷ năm, giúp độc giả hiểu hơn về quan hệ giữa con người và tự nhiên; được viết bởi GS lịch sử toàn cầu tại Đại học Oxford, Peter Frankopan.
Thời đại bành trướng nông nghiệp của lịch sử loài người
Một sử gia hàng đầu đã chỉ ra, việc tự trồng lương thực ở Italy vào giai đoạn Sơ kỳ Trung đại “vừa là một điều cần thiết, vừa là một điều xa xỉ".
Thời kỳ ấm Trung đại (k.900-k.1250)
Chuyển biến hợp lý của cả xã hội loài người lẫn môi trường tự nhiên vào giai đoạn Sơ kỳ Trung đại sâu sắc đến mức một số học giả đã gọi đây là thời đại “bành trướng quan trọng nhất của nông nghiệp kể từ Thời đại Đồ đá Mới”. Vai trò của các kỹ thuật mới trong việc thúc đẩy năng suất và sản lượng đã được các sử gia thời Trung đại nhấn mạnh từ lâu.
Người ta đặc biệt chú ý đến tầm quan trọng của vòng cổ ngựa và sự phát triển của công cụ cày hạng nặng có thể xới loại đất sét nặng ở Bắc Âu tốt hơn. Chúng đã cải thiện việc kiểm soát cỏ dại, tăng cường hệ thống thoát nước và có tác dụng kép là tăng năng suất và giúp cho nông dân đỡ vất vả hơn, từ đó giải phóng thời gian và nguồn lực để phân bổ cho các hoạt động khác.
Việc chia các điền trang lớn thành các đơn vị nhỏ hơn đã dẫn đến biến đổi xã hội quan trọng, làm thay đổi nhận thức về đất đai và cảnh quan đối với nông dân cũng như tầng lớp hào phú mới nổi.

Lịch sử loài người gắn liền với sự thăng trầm của sản xuất nông nghiệp. Ảnh: From Poverty to Progress.
Điều quan trọng nhất trong việc nâng cao năng suất nông nghiệp là mối quan hệ của nó với đô thị hóa: bằng cách cải thiện thu nhập bình quân đầu người cũng như thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới giao thông và thương mại, những thay đổi trong nền kinh tế nông nghiệp ở Tây Âu và Bắc Âu đã gây ra một phản ứng dây chuyền dẫn đến sự gia tăng quy mô và số lượng các thị trấn. Thông qua đó khuyến khích tính chuyên môn hoá và thể nghiệm văn hoá, dẫn đến làn sóng di cư mạnh hơn từ nông thôn đến các khu vực thành thị - và thúc đẩy các chu kỳ tăng trưởng năng động.
Sự trỗi dậy của các thị trấn và thành phố - và sự xuất hiện thường xuyên của những người mới đến và những người xa lạ - đã có tác động sâu sắc đến văn hoá đô thị cũng như những người sống ở nông thôn, với những phong tục, tư tưởng, thời trang và thị hiếu mới, tạo nên biến đổi bùng nổ ở châu Âu.
Khi các mạng lưới thương mại đường dài phát triển, tầm nhìn trí tuệ, văn hoá và địa lý cũng mở rộng theo, điển hình là các quan niệm như cuộc hành hương đến Jerusalem chẳng hạn, một hành trình dài, tốn kém và thường có nhiều rủi ro, nhưng lại mang đến danh tiếng đáng kể cho những ai có thể đến thăm những địa điểm mà Chúa Giêsu Ki-tô đã sống, tử đạo và phục sinh.
Các ý niệm về thiên nhiên cũng có sự tiến triển, giống như mối bận tâm về sự tranh giành nguồn tài nguyên không giống nhau giữa các vùng; những ý tưởng này rõ ràng đã bị ảnh hưởng bởi việc thay đổi lối sống, cũng như bởi sự gắn kết giữa con người với hệ động thực vật. Các quan niệm về thế giới tự nhiên khá mơ hồ: như một sử gia hàng đầu đã chỉ ra, việc tự trồng lương thực ở Ý vào giai đoạn Sơ kỳ Trung đại “vừa là một điều cần thiết, vừa là một điều xa xỉ”.
Tuy nhiên, đối với một số học giả, biến đổi khí hậu mang lại chiếc chìa khoá vô giá giúp ta hiểu được giai đoạn Sơ kỳ Trung đại. Ví dụ, họ cho rằng sự ấm lên chí ít đã trở thành một trong những yếu tố góp phần vào sự di cư của người Bulgar vào vùng Trung lưu Volga từ khoảng năm 800, vì sự thành lập nhà nước Bulgaria Volga cũng diễn ra vào thời gian này, sự kiện này cũng giúp mở ra các tuyến thương mại lan rộng tới Scandinavia, Byzantium, Trung Đông và Trung Á.

