Thời điểm cuối năm là phép thử cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4%; chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng tới 33,2%; thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%; lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8%.

Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI
Nhìn vào những con số này có thể thấy bức tranh xuất khẩu vẫn khá sáng. Nhưng nếu chỉ nhìn vào mức tăng trưởng sẽ dễ bỏ qua một thực tế đó là động lực tăng trưởng giữa các nhóm hàng đang có sự phân hóa rõ rệt.
Nông sản vẫn là nhóm hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất, song mức tăng chỉ 2,4%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng chung 7,5%. Trong khi đó, thủy sản tăng 12,7%, chăn nuôi tăng 33,2% và lâm sản tăng 5,8%.
Sự phân hóa này đặt ra câu hỏi về chất lượng tăng trưởng. Khi sản lượng và giá cả hàng hóa không còn tạo ra mức tăng mạnh như trước, dư địa để duy trì tốc độ xuất khẩu cao sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng chế biến, chất lượng, thương hiệu và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của từng thị trường. Đây cũng là điểm mà ngành nông nghiệp không thể xem nhẹ trong những tháng cuối năm.
Những tháng cuối năm là mùa cao điểm xuất khẩu, nhưng cũng là thời điểm các doanh nghiệp phải đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn hơn. Những thị trường chủ lực ngày càng đặt ra yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, dư lượng hóa chất, phát thải carbon, sản xuất bền vững và tính hợp pháp của nguyên liệu. Nói cách khác, thị trường không chỉ hỏi Việt Nam có bao nhiêu hàng để bán, mà là hàng hóa đó được sản xuất như thế nào? Đây là sự thay đổi căn bản mà doanh nghiệp và cả chuỗi sản xuất phải thích ứng.
Nhiều năm qua, một trong những lợi thế của nông nghiệp Việt Nam là khả năng sản xuất khối lượng lớn với nhiều mặt hàng có vị trí đáng kể trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế này đang dần trở nên không đủ.
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), khi các quốc gia nhập khẩu nâng chuẩn, một lô hàng không đáp ứng yêu cầu có thể không chỉ gây thiệt hại cho một doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng. Chi phí để đáp ứng tiêu chuẩn vì thế không còn là khoản đầu tư tùy chọn, mà trở thành điều kiện để duy trì thị trường.
Với thủy sản, câu chuyện càng rõ hơn. Mức tăng 12,7% trong 7 tháng là tín hiệu tích cực, nhưng ngành vẫn phải giải bài toán về nguồn nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và sức cạnh tranh về giá.
Lâm sản cũng đứng trước yêu cầu tương tự khi các thị trường lớn ngày càng quan tâm đến nguồn gốc nguyên liệu, tính hợp pháp của gỗ và tiêu chí môi trường.
Trong khi đó, nhóm nông sản có giá trị xuất khẩu lớn nhất lại chỉ tăng 2,4%. Điều này cho thấy nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào xuất khẩu sản phẩm thô hoặc sơ chế, rất khó tạo ra bước tăng trưởng đột phá.
Một tấn hàng xuất khẩu không nên chỉ được đo bằng sản lượng, mà phải được đo bằng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị sản phẩm. Đó mới là hướng đi bền vững.
Từ nay đến cuối năm, áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp không chỉ nằm ở đơn hàng mà còn ở chi phí. Giá nguyên liệu, logistics, vận tải quốc tế, tỷ giá và những biến động khó dự báo của thị trường thế giới đều có thể tác động trực tiếp tới hiệu quả xuất khẩu. Trong bối cảnh biên lợi nhuận của nhiều ngành hàng không quá lớn, chỉ một biến động bất lợi về chi phí cũng có thể làm giảm đáng kể hiệu quả kinh doanh.
Bà Ngô Tường Vy, CEO Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu cho biết, đáng chú ý hơn, cạnh tranh quốc tế đang ngày càng gay gắt. Các nước xuất khẩu nông sản không chỉ cạnh tranh bằng giá mà còn bằng chất lượng, công nghệ chế biến, hệ thống logistics và khả năng đáp ứng nhanh yêu cầu của khách hàng.
Nếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu bán nguyên liệu, phụ thuộc vào thương lái, thiếu dữ liệu về thị trường và chưa kiểm soát tốt chuỗi cung ứng, lợi thế xuất khẩu sẽ rất dễ bị bào mòn. Do đó, điều cần thiết trong những tháng cuối năm không phải là chạy đua bằng mọi giá để tăng sản lượng xuất khẩu. Chạy theo lượng có thể giúp con số đẹp hơn trong ngắn hạn, nhưng chưa chắc giúp ngành nông nghiệp mạnh hơn trong dài hạn.
Điều quan trọng hơn là giữ được những thị trường đã có, mở thêm những thị trường có giá trị cao và nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến.
Muốn xuất khẩu tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp không thể đứng một mình ở cuối chuỗi.
Đặc biệt, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc cần được xem là hạ tầng của xuất khẩu, thay vì chỉ là yêu cầu hành chính. Khi dữ liệu về vùng trồng, quy trình sản xuất, nguyên liệu và chất lượng được số hóa, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn có thể kiểm soát tốt hơn chuỗi cung ứng, giảm rủi ro và nâng khả năng đàm phán với đối tác.
Không thể phủ nhận kết quả 7 tháng là một tín hiệu tích cực. Nhưng kết quả này cũng cho thấy một điều đó là chặng đường còn lại sẽ khó hơn nếu chỉ trông chờ vào yếu tố thị trường. Muốn tăng trưởng cao hơn, ngành nông nghiệp phải đồng thời giải quyết ba bài toán: nâng chất lượng hàng hóa, giảm chi phí chuỗi cung ứng và tăng giá trị gia tăng.
Đó cũng là lúc vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trở nên quan trọng hơn. Những doanh nghiệp đủ năng lực cần tham gia sâu hơn vào vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ, xây dựng thương hiệu và mở rộng hệ thống phân phối tại nước ngoài. Nhà nước cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, hạ tầng logistics và hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản xuất.
Nếu làm được điều đó, những tháng cuối năm không chỉ là cuộc chạy nước rút để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu, mà còn có thể trở thành bước chuyển quan trọng về chất của ngành nông nghiệp.


