Thời điểm làm sạch doanh nghiệp "ma", doanh nghiệp "ngủ đông"
Số lượng doanh nghiệp (DN) rút lui khỏi thị trường tăng mạnh khiến dư luận đặc biệt quan tâm, bởi “sức khỏe” DN được xem là một trong những thước đo nền kinh tế. Tuy nhiên, phía sau DN rút lui còn cho thấy việc làm sạch DN "ma", DN "ngủ đông".

Ảnh minh họa
Cuộc “sàng lọc” khốc liệt
Theo số liệu báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 7 tháng đầu năm ghi nhận 155.300 DN rút lui khỏi thị trường, tăng gần 28% so với cùng kỳ năm trước. Riêng TPHCM số DN rút lui khỏi thị trường tháng (bao gồm tạm ngưng hoạt động, hoàn tất giải thể) gần 39.000 DN, cao hơn số thành lập mới (hơn 34.000 DN).
Nhận xét về số lượng DN rút lui khỏi thị trường tăng cao trong những tháng đầu năm, đại diện Cục Thống kê cho rằng điều này phản ánh sức ép lớn từ nhiều yếu tố như: áp lực chi phí lớn, khó khăn về vốn, sức mua giảm, sức chống chịu kém. Nhưng mặt khác cũng cho thấy các DN đang đứng trước một cuộc “sàng lọc” tự nhiên của thị trường.

Đồ thị thông tin về tình hình doanh nghiệp trong 7 tháng đầu năm 2026. LƯU THỦY thực hiện
Bên cạnh đó, nhiều DN chủ động giải thể hoặc tạm ngừng để tái cơ cấu mô hình kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu mới của thị trường. Điều này được phản ánh qua việc bên cạnh các DN rút lui, số lượng các DN đăng ký mới và quay trở lại hoạt động trong 7 tháng đầu năm cũng tăng mạnh với hơn 187.000 DN.
Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, nếu nhìn vào tỷ trọng cơ cấu DN rút lui khỏi thị trường (155.300 DN), sẽ thấy rõ trong số đó chiếm tỷ trọng lớn khi có đến 85.900 DN tạm ngừng kinh doanh. Điều này phản ánh xu hướng “ngủ đông”, khi DN chọn giải pháp tạm ngừng hoạt động để nghe ngóng thị trường, cơ cấu lại dòng tiền ngắn hạn hoặc chờ đợi các quy định mới.
Như vậy số DN giải thể tăng mạnh không hoàn toàn phản ánh tiêu cực, mà ở khía cạnh khác lại cho thấy những thay đổi chính sách mới về thuế đã giải quyết được “điểm nghẽn” lâu nay của DN: dù đã ngừng hoạt động nhưng chưa thể hoàn tất thủ tục phá sản.
Những con số "biết nói"
Theo Cục thuế (Bộ Tài chính), riêng trong tháng 7 đã ghi nhận hơn 7.200 DN hoàn tất thủ tục giải thể, tăng mạnh hơn 45% so với tháng 6. Con số này tăng cao kỷ lục do cơ quan thuế triển khai “Chiến dịch làm sạch mã số thuế” nhằm loại bỏ hàng loạt DN đã ngừng hoạt động, tồn tại ở trạng thái “bóng ma” từ lâu nhưng chưa bị xóa tên.
Thực tế, ngay từ giữa tháng 5, khi Cục Thuế mở “Chiến dịch làm sạch mã số thuế” thì số lượng DN giải thể đã tăng lên đáng kể. Theo đại diện Cục Thuế, trước thời điểm triển khai, trên hệ thống của ngành thuế hiện vẫn còn khoảng 617.000 mã số thuế của DN, hộ kinh doanh không còn hoạt động hoặc có thông tin chưa được cập nhật đầy đủ.
Thực trạng trên không chỉ tạo ra những “điểm mù” trong dữ liệu quản lý thuế, mà còn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để thành lập DN “ma”, mua bán hóa đơn hoặc giả mạo thông tin cá nhân. Trong số đó có gần 292.000 DN đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hiệu lực mã số thuế; gần 326.000 DN không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế và đồng thời đang có nợ thuế.
Việc số lượng DN rút lui khỏi thị trường tăng mạnh cũng cho thấy cuộc “sàng lọc” tự nhiên của thị trường đang ngày càng khốc liệt hơn, khi “luật chơi” đã có nhiều thay đổi.
Nhưng cũng cần tiếp sức đúng lúc
Thực tế cho thấy, không ít DN rút lui không phải vì thiếu thị trường, mà do không đủ nguồn lực để “cầm cự” đến khi thị trường phục hồi. Đây là “điểm nghẽn” cần được giải quyết bằng các chính sách hỗ trợ trúng và đúng, từ cải thiện khả năng tiếp cận vốn, giảm chi phí tuân thủ đến hỗ trợ chuyển đổi số.
Nhìn vào cơ cấu các DN rút lui khỏi thị trường, không khó để nhận ra chủ yếu là các DN nhỏ và vừa. Hiện khu vực DN nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số DN cả nước, nhưng phần lớn có quy mô siêu nhỏ, năng lực tài chính hạn chế và sức chống chịu yếu trước biến động. Trong bối cảnh đó, chỉ cần một cú sốc từ thị trường như chi phí đầu vào tăng, đơn hàng sụt giảm hoặc thay đổi chính sách, DN rất dễ rơi vào trạng thái mất cân đối.
Để hỗ trợ các DN nhỏ và vừa vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, đòi hỏi cần phải có những giải pháp kịp thời, đồng bộ và hiệu quả. Trong đó, việc tháo gỡ “điểm nghẽn” tiếp cận vốn tín dụng từ ngân hàng, hỗ trợ vốn vay cho các DN được xác định là khâu đầu tiên.
Thực tế cho thấy, khó khăn lớn nhất của các DN nhỏ và vừa hiện nay không chỉ nằm ở mức lãi suất, mà là khả năng tiếp cận vốn do thiếu tài sản đảm bảo và minh bạch tài chính. Do đó, đòi hỏi các cơ quan quản lý và ngành ngân hàng thay vì chỉ nhìn vào sổ đỏ, tài sản cố định, cần áp dụng nguyên tắc cho vay dựa trên lịch sử dòng tiền thông qua ứng dụng dữ liệu lớn; số hóa quy trình chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền thực tế và lịch sử giao dịch thanh toán qua ngân hàng của DN.
Cùng với đó, các tổ chức tín dụng cần tăng tỷ trọng các gói vay tín chấp dựa trên các hợp đồng kinh tế đầu ra khả thi; kích hoạt đòn bẩy quỹ bảo lãnh và Quỹ phát triển DN nhỏ và vừa cũng như triển khai các gói tín dụng ưu đãi chuyên biệt, định hướng dòng vốn tín dụng đúng đối tượng ưu tiên.
Về phía DN, việc thay đổi tư duy là yếu tố then chốt. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kinh nghiệm hay lợi thế ngắn hạn không còn nhiều. DN cần nâng cao năng lực quản trị, xây dựng chiến lược dài hạn và chủ động thích ứng với những xu hướng mới nếu không muốn bị đào thải khỏi cuộc chơi.
