Thổi hồn dân tộc vào công nghiệp văn hóa

Với 51 dân tộc anh em cùng chung sống, Thái Nguyên không chỉ là vùng đất hội tụ đa sắc màu mà còn đang sở hữu một 'mỏ vàng' tài nguyên nhân văn quý giá. Trước làn sóng hội nhập mạnh mẽ, tỉnh đang chuyển hướng chiến lược đầy táo bạo đó là: Tập trung 'đánh thức' và đưa bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trở thành nguồn lực cốt lõi cho các sản phẩm sáng tạo, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và du lịch phát triển. Đây được xem là một hướng đi bền vững để di sản thực sự trở thành tài sản, góp phần kiến tạo diện mạo kinh tế - xã hội mới cho vùng đất 'Thủ đô gió ngàn'.

Xóm Mỏ Gà, xã Võ Nhai - một trong những điểm du lịch cộng đồng đầu tiên trên địa bàn, du khách được hòa mình với đời sống của người dân địa phương. Ảnh: T.L

Xóm Mỏ Gà, xã Võ Nhai - một trong những điểm du lịch cộng đồng đầu tiên trên địa bàn, du khách được hòa mình với đời sống của người dân địa phương. Ảnh: T.L

Nền tảng đa sắc và sức mạnh nội sinh

Thái Nguyên hiện có gần 1,8 triệu người sinh sống tại 92 xã, phường, trong đó nhiều địa bàn miền núi, vùng cao có đông đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu với Thủ đô Hà Nội và là vùng lõi của trung tâm Việt Bắc, nơi đây từ lâu đã trở thành điểm dừng chân của nhiều tộc người, như: Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Dìu, Sán Chay… trên hành trình tìm cuộc sống ổn định.

Sự cộng cư lâu đời đã tạo nên một không gian văn hóa phong phú, nơi các dân tộc không chỉ chung sống mà còn giao thoa, hòa quyện. Theo thời gian, họ hình thành ngôn ngữ giao tiếp chung, gắn bó qua hôn phối và cùng chia sẻ phong tục, tập quán. Những thế hệ con em mang trong mình dòng máu của nhiều tộc người là minh chứng sinh động cho quá trình hòa hợp và phát triển bền bỉ của cộng đồng cư dân.

Tuy vậy, trong dòng chảy mạnh mẽ của kinh tế thị trường, nhiều giá trị truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Không ít làn điệu dân ca, nghề thủ công như đan lát, dệt thổ cẩm... dần vắng bóng trong đời sống thường nhật. Một bộ phận giới trẻ e ngại khi mặc trang phục truyền thống hoặc sử dụng tiếng mẹ đẻ, khiến mạch nối văn hóa đối mặt nguy cơ đứt gãy.

Không dừng lại ở bảo tồn, tỉnh Thái Nguyên tập trung “đánh thức” và đưa bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trở thành nguồn lực cốt lõi cho các sản phẩm sáng tạo, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và du lịch phát triển. Ảnh: T.L

Không dừng lại ở bảo tồn, tỉnh Thái Nguyên tập trung “đánh thức” và đưa bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trở thành nguồn lực cốt lõi cho các sản phẩm sáng tạo, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và du lịch phát triển. Ảnh: T.L

Nhìn nhận vấn đề dưới góc độ khoa học, Tiến sĩ Chu Thành Huy, Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên), cho rằng: Sự mai một là quy luật khắc nghiệt của phát triển, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu đổi mới cách tiếp cận. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, phát triển công nghiệp văn hóa là hướng đi mang tính đột phá. Đây chính là quá trình “đánh thức” và làm sống lại “hồn cốt” của làng nghề truyền thống và các giá trị bản địa, đưa văn hóa truyền thống hiện diện trong không gian đương đại, tạo động lực bền vững cho phát triển kinh tế và du lịch văn hóa Thái Nguyên.

Trước thực tế đó, tỉnh Thái Nguyên xác định việc giữ gìn bản sắc là nhiệm vụ trọng tâm nhằm củng cố sức mạnh nội sinh. Với sự vào cuộc của các cấp, ngành và nỗ lực của chính cộng đồng, nhiều giá trị văn hóa phi vật thể từng có nguy cơ mai một đã được khôi phục. Hàng loạt đề án bảo tồn được triển khai hiệu quả, như: Phục dựng đám cưới người Tày tại xã Lam Vỹ; Lễ cầu mùa của người Sán Dìu ở xã Vô Tranh; Lễ cấp sắc của người Nùng Phàn Sình tại xã Nam Hòa...

Đến nay, Thái Nguyên sở hữu kho tàng văn hóa đồ sộ với gần 600 di sản phi vật thể, trong đó có 1 di sản đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh, 45 di sản cấp quốc gia cùng đội ngũ 3 nghệ nhân nhân dân và 19 nghệ nhân ưu tú. Họ chính là những “báu vật sống” đang bền bỉ trao truyền mạch nguồn văn hóa qua nhiều thế hệ.

Không để di sản chỉ tồn tại trong bảo tàng hay tư liệu, Thái Nguyên nỗ lực đưa văn hóa trở lại đời sống đương đại, biến các nghi thức và lễ hội truyền thống thành sản phẩm du lịch đặc sắc.

Tại xóm Đồng Tâm, xã Vô Tranh, đồng bào dân tộc Sán Chay vẫn lưu giữ điệu múa Tắc xình và hát Sấng cọ, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Gắn với lễ hội cầu mùa, điệu múa Tắc xình mang tiết tấu vui tươi, mô phỏng hoạt động sản xuất, trở thành chất liệu hình thành các sản phẩm du lịch trải nghiệm. Việc đón khách du lịch đã giúp người dân thay đổi tư duy, từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang làm du lịch có tổ chức, chủ động cải tạo nhà sàn để phục vụ du khách.

Du khách nước ngoài trải nghiệm Tết cơm mới ở Khu bảo tồn làng nhà sàn du lịch sinh thái Thái Hải. Ảnh: T.L

Du khách nước ngoài trải nghiệm Tết cơm mới ở Khu bảo tồn làng nhà sàn du lịch sinh thái Thái Hải. Ảnh: T.L

Cùng với đó, các lễ hội như Chợ tình Xuân Dương, Lễ hội Lồng tồng tại Nà Liền Mạ (xã Phủ Thông) hay Lễ hội Mù Là (xã Cao Minh) được phục dựng bài bản, vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh, vừa tạo điểm nhấn thu hút du khách. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh hình thành và hỗ trợ phát triển các điểm du lịch cộng đồng tại khu vực miền núi.

Khi tri thức bản địa trở thành giá trị sáng tạo

Công nghiệp văn hóa tại Thái Nguyên đang dần được định hình thông qua việc gắn kết bản sắc các dân tộc vào sản phẩm sáng tạo, tiêu biểu là cây chè. Vượt ra khỏi giá trị của một loại nông sản, chè Thái Nguyên là kết tinh của tri thức dân gian bản địa từ kỹ thuật chọn đất, quan sát thời tiết đến bí quyết sao sấy thủ công và cảm nhận hương vị. Chính những tri thức này đã nâng tầm cây chè thành một sản phẩm văn hóa đặc sắc, đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp sáng tạo.

Theo bà Vũ Thị Thu Hương, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh, giá trị của làng nghề và sản phẩm OCOP không chỉ nằm ở vật chất mà còn ở con người và câu chuyện văn hóa đi kèm. Trong xu hướng phát triển mới, nghệ nhân và người làm nghề được xem là trung tâm của công nghiệp văn hóa. Họ vừa là lao động thủ công, vừa là những “nhà sáng tạo” mang trong mình tri thức dân gian và kỹ năng quý giá. Tại vùng đồng bào DTTS, người cao tuổi và người có uy tín trong cộng đồng giữ vai trò then chốt trong việc phục dựng và lan tỏa các giá trị văn hóa bản địa.

Thực tiễn cho thấy, Thái Nguyên hiện có 277 làng nghề, trong đó 256 làng nghề sản xuất, chế biến chè với sự tham gia đông đảo của đồng bào các dân tộc. Bên cạnh vùng chè Tân Cương nổi tiếng, bản đồ văn hóa trà của tỉnh đang mở rộng với những điểm đến mới giàu giá trị lịch sử, tiêu biểu là vùng chè Shan tuyết tại xã Đồng Phúc.

Người dân xã Đồng Phúc biến lợi thế của cây chè Shan tuyết cổ thụ được công nhận là “Cây di sản Việt Nam” thành sinh kế bền vững. Ảnh: T.L

Người dân xã Đồng Phúc biến lợi thế của cây chè Shan tuyết cổ thụ được công nhận là “Cây di sản Việt Nam” thành sinh kế bền vững. Ảnh: T.L

Tại đây, quần thể 12 cây chè Shan tuyết cổ thụ đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam. Các kết quả điều tra khoa học của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cho thấy, quần thể này có giá trị đặc biệt về sinh học và lịch sử, trở thành nền tảng để người dân phát triển sinh kế bền vững. Điển hình là HTX rượu men lá Bằng Phúc, thôn Nà Pài, đơn vị vừa sản xuất rượu truyền thống vừa liên kết với 25 hộ dân phát triển 6ha vùng nguyên liệu chè cổ thụ. Sản phẩm Trà Shan tuyết Tô Hoài của HTX đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao năm 2024.

Chị Triệu Thị Én, người dân thôn Nà Pài, chia sẻ: Trước đây, bà con chủ yếu hái chè bán thô với giá trị thấp. Khi được hướng dẫn làm du lịch và xây dựng thương hiệu, người dân nhận ra rằng du khách không chỉ đến để uống trà mà còn để nghe câu chuyện về những cây chè hàng trăm năm tuổi. Mong muốn của bà con là tiếp tục nhận được sự hỗ trợ trong quảng bá và kết nối thị trường.

Theo ông Triệu Quang Hùng, Chủ tịch UBND xã Đồng Phúc, việc mở rộng không gian trưng bày và đưa sản phẩm thủ công vào các không gian văn hóa, lễ hội sẽ giúp giá trị văn hóa truyền thống lan tỏa mạnh mẽ hơn. Khi người trẻ có thêm thu nhập và cơ hội việc làm, họ sẽ gắn bó với nghề và tự hào góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập.

Các làng nghề vì thế không chỉ tạo việc làm và nâng cao thu nhập mà còn trở thành không gian văn hóa sống động, nơi du khách thưởng trà và lắng nghe câu chuyện về vùng đất, con người và văn hóa làm trà, góp phần định hình thương hiệu văn hóa Thái Nguyên trong công nghiệp sáng tạo.

Tại xóm Đồng Tâm, xã Vô Tranh, đồng bào dân tộc Sán Chay vẫn lưu giữ điệu múa Tắc xình và hát Sấng cọ, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, gắn với lễ hội cầu mùa. Ảnh: T.L

Tại xóm Đồng Tâm, xã Vô Tranh, đồng bào dân tộc Sán Chay vẫn lưu giữ điệu múa Tắc xình và hát Sấng cọ, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, gắn với lễ hội cầu mùa. Ảnh: T.L

Kiến tạo không gian chung cho du lịch cộng đồng

Để các sản phẩm sáng tạo không phát triển rời rạc, Thái Nguyên đang tập trung xây dựng một hệ sinh thái du lịch văn hóa có tính liên kết cao. Trọng tâm là công tác quy hoạch và kết nối không gian nhằm chuyển hóa tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh.

Ông Vũ Văn Tuyên, Giám đốc Travelogy Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Du lịch cộng đồng Việt Nam, nhận định: “Chìa khóa” của chiến lược này nằm ở việc xây dựng một “hệ sinh thái hạnh phúc”, trong đó bản sắc văn hóa và cảm xúc của du khách giữ vai trò trung tâm, tạo nên sự khác biệt khó sao chép.

Thái Nguyên sở hữu nền tảng tài nguyên phong phú gồm không gian văn hóa trà, hệ thống làng nghề, bản sắc các tộc người Tày, Nùng, Dao và di sản lịch sử ATK. Việc tổ chức lại không gian du lịch đã giúp kết nối các giá trị vốn tồn tại rời rạc thành các cụm du lịch quy mô, đủ sức cạnh tranh và trở thành động lực mới cho xây dựng nông thôn mới. Sự kết hợp giữa nông nghiệp, du lịch và văn hóa góp phần nâng cao thu nhập và hạn chế tình trạng di cư lao động của thanh niên địa phương.

Trò chơi dân gian tại Lễ hội Mù Là được phục dựng bài bản, trở thành điểm nhấn thu hút du khách đến với xã Cao Minh. Ảnh: T.L

Trò chơi dân gian tại Lễ hội Mù Là được phục dựng bài bản, trở thành điểm nhấn thu hút du khách đến với xã Cao Minh. Ảnh: T.L

Về giải pháp cụ thể, ông Vũ Văn Tuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác “giá trị bản địa nguyên gốc” qua các mô hình điểm sáng, như: Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải (giữ tính nguyên bản của văn hóa Tày - Nùng); vùng chè Tân Cương (du lịch nông nghiệp gắn với thương hiệu trà); hồ Núi Cốc (nghỉ dưỡng sinh thái) và sự kết nối liên vùng với không gian văn hóa, sinh thái của hồ Ba Bể.

"Sức hút của du lịch Thái Nguyên cần dựa trên 3 trụ cột là tài nguyên nguyên bản, cộng đồng bản địa giữ vai trò chủ thể và cách kể câu chuyện văn hóa giàu cảm xúc. Văn hóa bản địa chỉ thực sự bền vững khi tư duy cộng đồng thay đổi, tránh chạy theo phong trào hoặc thương mại hóa quá mức khiến sản phẩm mất đi chiều sâu" - ông Vũ Văn Tuyên, Giám đốc Travelogy Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Du lịch cộng đồng Việt Nam.

Những năm gần đây, Thái Nguyên đã ban hành nhiều đề án, kế hoạch và chính sách hỗ trợ phát triển du lịch, xác định đây là ngành kinh tế quan trọng. Hướng đi đúng đắn cùng sự đầu tư bài bản đã bắt đầu mang lại kết quả rõ nét. Năm 2025, tỉnh đón hơn 7,3 triệu lượt khách, doanh thu ước đạt gần 7.450 tỷ đồng. Những con số này cho thấy việc đưa bản sắc DTTS vào công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện bảo tồn, mà là hành trình khẳng định vị thế, niềm tự hào và khát vọng vươn lên của Thái Nguyên trong dòng chảy hiện đại.

Kim Tuyến

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-hoa/202601/thoi-hon-dan-toc-vao-cong-nghiep-van-hoa-aba4448/