Thống đốc: Doanh nghiệp không thể sử dụng hai bảng cân đối kế toán
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh yêu cầu minh bạch tài chính của doanh nghiệp, cho rằng không thể tồn tại tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai bảng cân đối kế toán khác nhau, một để thực hiện nghĩa vụ thuế và một để vay vốn ngân hàng.
Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội ngày 31/10, vấn đề giảm lãi suất, tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng và cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm.
Không chỉ đề cập đến những khó khăn trước mắt, nhiều đại biểu còn đặt vấn đề về cơ cấu nguồn vốn của nền kinh tế trong dài hạn.
Vì vậy, đại biểu kiến nghị phát triển thực chất thị trường vốn, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn; đồng thời kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và rủi ro liên thông giữa ngân hàng, trái phiếu và bất động sản.
Theo đại biểu, giai đoạn 2026 – 2030, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội lên tới khoảng 38 triệu tỷ đồng, gấp hai lần giai đoạn trước. Vì vậy, cần tái cấu trúc thị trường tài chính để thị trường chứng khoán từng bước trở thành kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế.

Ảnh minh hoạ.
Giải trình tại nghị trường, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết, một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội, chuyên gia kinh tế và đại diện các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) quan ngại là tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP, tình trạng nguồn vốn huy động chủ yếu ngắn hạn trong khi nhu cầu cho vay trung và dài hạn lớn, cùng với những vấn đề liên quan đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, qua thực tiễn điều hành, Thống đốc cho rằng, thị trường tiền tệ Việt Nam có những đặc điểm riêng cần được xem xét khi đánh giá các rủi ro này.
Cụ thể, tiền gửi ngắn hạn hiện chiếm khoảng 80% tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng. Về nguyên tắc, nguồn vốn ngắn hạn thường được xem là kém ổn định hơn nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhiều người dân lựa chọn kỳ hạn gửi ngắn nhưng thực tế duy trì tiền gửi trong thời gian dài và liên tục quay vòng khi đến hạn.
Theo Thống đốc, đặc điểm này tạo ra sự ổn định nhất định cho nguồn vốn huy động. Đồng thời, việc huy động vốn ngắn hạn với mức lãi suất thấp hơn cũng góp phần tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại giảm chi phí vốn, qua đó hỗ trợ lãi suất cho vay.
Lý giải việc tiền gửi tiếp tục tập trung nhiều vào hệ thống ngân hàng, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho rằng, nguyên nhân cơ bản là người dân vẫn có niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Khi thị trường vốn phát triển hơn, có sức hấp dẫn và bảo đảm an toàn cho nhà đầu tư, cơ cấu phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế có thể sẽ thay đổi theo hướng cân bằng hơn.
Về điều hành chính sách tiền tệ, Thống đốc khẳng định, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo đuổi các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá, đồng thời đóng góp vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Theo Thống đốc, yêu cầu đặt ra là tìm được điểm cân bằng giữa các mục tiêu điều hành. Tuy nhiên, điểm cân bằng này không thể xác định theo một công thức cố định mà phải được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở diễn biến thực tế của thị trường và nền kinh tế.
Liên quan đến các công cụ hỗ trợ nguồn vốn, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng công cụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng phương án tái cấp vốn phục vụ cho vay nhà ở xã hội.
Đối với hoạt động tín dụng, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chú trọng kiểm soát tăng trưởng tín dụng, qua đó góp phần kiểm soát lãi suất.
Theo số liệu được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu, tăng trưởng tín dụng hiện đạt khoảng 12,27%. Trong khi đó, lãi suất huy động tăng 1,42 điểm phần trăm, còn lãi suất cho vay tăng 0,99 điểm phần trăm. Như vậy, mức tăng lãi suất cho vay thấp hơn mức tăng lãi suất huy động.
Đối với tín dụng bất động sản, Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục kiểm soát tăng trưởng để bảo đảm an toàn. Tốc độ tăng tín dụng bất động sản hiện ở mức 9,84%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung. Về cơ cấu tín dụng, trong tổng dư nợ hơn 20,879 triệu tỷ đồng, có 77,4% dành cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Riêng dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hơn 4 triệu tỷ đồng.
Trước những kiến nghị về giảm lãi suất và mở rộng khả năng tiếp cận vốn, Thống đốc cho biết, một trong những hướng được quan tâm là mở rộng phương thức cho vay dựa trên dòng tiền và khả năng trả nợ thực tế của doanh nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng đề cập đến những hạn chế từ phía doanh nghiệp nhỏ và vừa được nêu trong hồ sơ dự án luật trình Quốc hội. Theo đó, nhiều doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch. Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng.
Đặc biệt, Thống đốc nhấn mạnh yêu cầu minh bạch tài chính của doanh nghiệp, cho rằng không thể tồn tại tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai bảng cân đối kế toán khác nhau, một để thực hiện nghĩa vụ thuế và một để vay vốn ngân hàng. Khi hoạt động tài chính được phản ánh đầy đủ, minh bạch, các tổ chức tín dụng mới có điều kiện đánh giá chính xác sức khỏe tài chính, hiệu quả phương án kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp để xem xét cấp tín dụng.
Theo Thống đốc, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp. Vì vậy, để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, bản thân doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực tài chính và chứng minh được khả năng trả nợ. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay dựa trên năng lực thực tế của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để ngân hàng yên tâm thực hiện.
Dù vậy, Thống đốc lưu ý, với vai trò là trung gian tài chính, các ngân hàng thương mại không chỉ có trách nhiệm cung ứng vốn mà còn phải bảo đảm khả năng thu hồi các khoản cho vay để hoàn trả tiền cho người gửi tiền. Đây là yêu cầu quan trọng trong việc xem xét mở rộng tín dụng.
Đối với kiến nghị kéo dài thời gian trả nợ và cơ cấu lại nợ, Thống đốc cho biết, những nội dung này đã được quy định trong pháp luật, thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở các quy định hiện hành, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua những giai đoạn khó khăn.
