Thu hẹp khoảng cách trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ
Sau 4 năm triển khai Dự án 'Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam' do Bộ Y tế phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thực hiện được triển khai tại 60 xã đặc biệt khó khăn, đã mang lại kết quả rõ rệt, không ghi nhận ca tử vong mẹ tại địa bàn thực hiện.
Mô hình can thiệp hiệu quả tại “vùng trũng” y tế
Việt Nam tự hào là một trong những điểm sáng trên thế giới về thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững. Đặc biệt, năm 2015, Việt Nam là một trong 6 quốc gia trên thế giới đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về giảm tử vong mẹ. Cụ thể, tỷ lệ tử vong mẹ (MMR) toàn quốc giảm từ 165 ca trên 100.000 ca đẻ sống vào năm 2000 xuống còn khoảng 46 ca vào năm 2023. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đối mặt với thách thức lớn về sự bất bình đẳng: MMR tại các vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là khu vực miền núi và dân tộc thiểu số (DTTS), vẫn cao gấp 2-3 lần so với mức trung bình quốc gia, có nơi lên tới 100-150 ca/100.000 ca đẻ sống.

Nhân viên y tế điểm số 2 Trạm Y tế xã Dào San, tỉnh Lai Châu hướng dẫn các bà mẹ cách thức bảo đảm an toàn khi sinh con tại cơ sở, tháng 4-2025.
Bộ Y tế đã và đang triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm thu hẹp khoảng cách này. Đặc biệt, trong Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, Việt Nam đặt ưu tiên hàng đầu vào việc chăm sóc sức khỏe (CSSK) bà mẹ và kế hoạch hóa gia đình cho đồng bào DTTS và vùng khó khăn. Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, Bộ Y tế xác định việc áp dụng các thực hành sáng tạo, bao gồm ứng dụng kỹ thuật số và lồng ghép yếu tố văn hóa truyền thống vào CSSK ban đầu tại miền núi, là một trong những định hướng ưu tiên để giảm tử vong mẹ một cách bền vững.
Nhằm nâng cao chất lượng CSSK bà mẹ, tăng cường sự tiếp cận dịch vụ CSSK sinh sản tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, trong giai đoạn 2021-2025, với sự hỗ trợ tài chính của Quỹ MSD for Mothers, UNFPA tại Việt Nam phối hợp cùng Bộ Y tế đã triển khai Dự án “Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam” tại 60 xã khó khăn thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Theo báo cáo, mặc dù đã đạt nhiều tiến bộ trong CSSK bà mẹ song Việt Nam vẫn đối mặt với không ít khó khăn ở vùng đồng bào DTTS, nhất là khu vực xa xôi, nơi rào cản địa lý, hạn chế tiếp cận dịch vụ và tập quán xã hội khiến phụ nữ chưa được chăm sóc kịp thời khi mang thai, sinh đẻ. Để khắc phục những bất cập này, Bộ Y tế đã triển khai Dự án “Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam” tại 60 xã đặc biệt khó khăn-những “vùng trũng” y tế. Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức, dự án tập trung đưa dịch vụ đến gần người dân, đồng thời áp dụng các giải pháp phù hợp về ngôn ngữ, văn hóa nhằm tháo gỡ rào cản, nâng cao khả năng tiếp cận và từng bước thu hẹp khoảng cách trong CSSK bà mẹ. Đây chính là minh chứng sống động cho việc hiện thực hóa mục tiêu công bằng trong CSSK.
Đặc biệt, dự án đã đạt được thành tựu xuất sắc khi không ghi nhận bất kỳ ca tử vong mẹ nào trong suốt 4 năm triển khai tại các địa bàn mục tiêu. Kết quả này khẳng định khi có can thiệp đúng và kịp thời, chúng ta hoàn toàn có thể ngăn chặn được những cái chết thương tâm của người mẹ. Đáng chú ý nhất là tỷ lệ bà mẹ là người DTTS được chăm sóc thai sản thiết yếu tăng gấp 3 lần, từ 11% lên 36%; tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế tăng gần gấp đôi, từ 29,9% lên 57,1%.
Nhân rộng mô hình, hướng tới công bằng y tế toàn diện
Đằng sau kết quả là một hệ thống can thiệp đồng bộ. Dự án đã đào tạo hơn 200 cán bộ y tế và huy động 650 tình nguyện viên cộng đồng-những “cánh tay nối dài” đưa kiến thức và dịch vụ y tế đến tận thôn, bản. Đồng thời, hơn 2.300 hoạt động truyền thông đã tiếp cận khoảng 17.000 người dân, góp phần phá vỡ rào cản tâm lý và tập quán vùng, miền.
Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam cho rằng, chính cách tiếp cận đổi mới và phù hợp văn hóa đã giúp tháo gỡ những rào cản lâu nay: “Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy nếu làm đúng cách, chúng ta có thể thu hẹp khoảng cách sức khỏe giữa các vùng, miền. Cùng với can thiệp trực tiếp, dự án còn thử nghiệm các giải pháp đổi mới, như ứng dụng công nghệ số, tăng cường theo dõi thai kỳ và kết nối hệ thống y tế cơ sở. Điều này giúp phát hiện sớm nguy cơ và chuyển tuyến kịp thời-yếu tố then chốt trong giảm tử vong mẹ”, ông Matt Jackson nói.
Ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) cho biết, những bằng chứng từ dự án này cũng sẽ cung cấp thông tin cho việc thiết kế, giám sát thực hiện các kế hoạch hành động quốc gia về sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại tuyến cơ sở.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức cho rằng, những kết quả của dự án cần được phổ biến rộng rãi vượt ra ngoài phạm vi 60 xã. Vấn đề cốt lõi hiện nay là thể chế hóa và lồng ghép các thực hành tốt này vào Chương trình mục tiêu quốc gia. Bộ Y tế đã có chủ trương chuẩn hóa mô hình đào tạo cô đỡ thôn, bản, quy trình giám sát hỗ trợ và tài liệu truyền thông lồng ghép văn hóa. Cần tận dụng tối đa nguồn lực của Trung ương, địa phương và các nguồn lực quốc tế để bảo đảm những sáng kiến kỹ thuật số và truyền thông tích hợp các yếu tố văn hóa sẽ được đưa vào những chương trình y tế cơ sở.











