Thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng không liệt kê giao dịch phải công chứng mà chỉ quy định rõ hơn tiêu chí xác định giao dịch phải công chứng. Qua đó, vừa giúp thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng, vừa làm rõ hơn các tiêu chí bắt buộc đối với giao dịch phải công chứng mà không bị trùng lặp, xung đột với các luật có liên quan.
Gỉam trực tiếp 6 loại giao dịch phải công chứng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng gồm 3 Điều. Cụ thể, Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, bao gồm việc sửa đổi toàn bộ điều hoặc một số điểm, khoản của các điều sau: Điều 2, 3, 11, 13, 16, 17, 19, 20, 21, 23, 24, 26, 29, 41, 42, 43, 44, 50, 57, 66, 67 và 68; Điều 2: Hiệu lực thi hành; Điều 3: Điều khoản chuyển tiếp.
Giới thiệu về một số điểm mới nổi bật của Luật, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết, Luật đã sửa đổi quy định về giao dịch phải công chứng nhằm thu hẹp phạm vi các giao dịch này.
Theo đó, sửa đổi khoản 1 Điều 3 theo hướng không liệt kê giao dịch phải công chứng trong Luật Công chứng mà chỉ quy định rõ hơn tiêu chí xác định giao dịch phải công chứng (bổ sung tiêu chí “đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ”, bỏ cụm từ “hoặc luật giao Chính phủ quy định”).
Theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp, quy định như vậy vừa giúp thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng, vừa làm rõ hơn các tiêu chí bắt buộc đối với giao dịch phải công chứng mà không bị trùng lặp, xung đột với các luật có liên quan.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh giới thiệu về những điểm mới của của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng. Ảnh: Minh Trang
Cụ thể, quy định này giúp giảm trực tiếp 6 loại giao dịch phải công chứng đang được quy định trong các Nghị định của Chính phủ, tăng số lượng giao dịch được công chứng tự nguyện theo yêu cầu, tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân, đồng thời các luật khác khi quy định về giao dịch phải công chứng đều phải đánh giá đầy đủ, bảo đảm giao dịch phải công chứng đáp ứng đủ các tiêu chí được Luật Công chứng quy định.
Bên cạnh đó, Luật quy định rõ Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật, đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (khoản 2 Điều 1 của Luật).
Luật cũng sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (khoản 3 đến khoản 10 Điều 1 của Luật).
Trong đó, sửa đổi quy định về thẩm quyền công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên tại các Điều 11, 13, 16 và 17 của Luật Công chứng năm 2024 theo hướng phân quyền triệt để cho địa phương, cụ thể là quy định rõ trong Luật về thẩm quyền công nhận tương đương đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài của Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc chuyển từ thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh (đối với việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên).
Đồng thời, Luật sửa đổi một số quy định về tổ chức hành nghề công chứng tại các Điều 19 đến 24 và Điều 26 của Luật Công chứng năm 2024 để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các Văn phòng công chứng trong bối cảnh đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Cụ thể, quy định về đơn vị hành chính cấp huyện/địa bàn cấp huyện được thay bằng đơn vị hành chính cấp xã địa bàn cấp xã. Đối với việc thay đổi trụ sở của Văn phòng công chứng thì Luật giao địa phương quyết định, bảo đảm việc thay đổi phù hợp với Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương.
Cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng
Thứ trưởng Bộ Tư pháp cũng cho biết, Luật đã bãi bỏ khoản 2 Điều 19 Luật Công chứng. Theo đó, không giao Bộ Tư pháp xây dựng, trình Chính phủ ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng trong Luật Công chứng. Nội dung này thuộc thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng của Chính phủ, trường hợp Chính phủ xác định cần ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng thì có thể quy định trong Nghị định hoặc quyết định bằng văn bản hành chính về việc giao cơ quan có thẩm quyền xây dựng chiến lược, trình Chính phủ ban hành.
Luật cũng sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng và hồ sơ công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung (từ khoản 11 đến 15 và khoản 17 Điều 1 của Luật).

Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 9 Luật. Ảnh: Minh Trang
Luật sửa đổi khoản 3 Điều 68 của Luật Công chứng năm 2024 theo hướng cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện xác minh, giám định tài liệu phục vụ việc tiến hành tố tụng, đồng thời có quy định nhằm bảo đảm bản gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, bàn giao lại đầy đủ và không ảnh hưởng quá lớn đến quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu công chứng trong việc yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng.
Để triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng kịp thời, hiệu quả, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh cho biết, Bộ Tư pháp đang tập trung xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật.
Cùng với đó, truyền thông, phổ biến, tập huấn các nội dung mới của Luật; xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 104/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng; ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2025/TT-BTP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng.











