Thu hút FDI - Đo giá trị từ những nguồn lực công

9 tháng năm 2026, các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thu hút hơn 5,57 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó vốn FDI đạt hơn 4,2 tỷ USD, tăng 62,22% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục được duy trì. Nhưng cùng với dòng vốn gia tăng, yêu cầu quản trị cũng phải chuyển sang một cấp độ mới: không chỉ đo nền kinh tế thu hút được bao nhiêu vốn, mà phải đánh giá nguồn lực công đã được sử dụng để thu hút dòng vốn đó và giá trị mới mà dòng vốn tạo ra cho nền kinh tế..

Vốn vào nhiều chưa đồng nghĩa với giá trị lan tỏa lớn.                Ảnh minh họa

Vốn vào nhiều chưa đồng nghĩa với giá trị lan tỏa lớn.                Ảnh minh họa

Theo thông tin từ Ban Quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, tổng vốn đầu tư thu hút trong 9 tháng năm 2026 đạt hơn 5,57 tỷ USD, bằng 131,15% kế hoạch năm và tăng 29,13% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn FDI đạt hơn 4,2 tỷ USD, gồm 100 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký 3,14 tỷ USD và 120 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 1,12 tỷ USD.

Đây là những con số tích cực về quy mô và tốc độ thu hút đầu tư. Tuy nhiên, dưới góc nhìn quản trị nguồn lực, vốn đăng ký mới chỉ phản ánh một phần của câu chuyện. Một dự án được cấp phép chưa đồng nghĩa với toàn bộ vốn sẽ được thực hiện đúng tiến độ; vốn thực hiện cũng chưa tự động đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế - xã hội; còn quy mô vốn chưa phản ánh đầy đủ mức độ đóng góp vào năng lực nội tại của nền kinh tế.

Giá trị của một dự án FDI cần được nhìn trong cả vòng đời: từ lựa chọn địa điểm, sử dụng đất, hạ tầng, năng lượng, lao động, ưu đãi đầu tư đến thực hiện nghĩa vụ tài chính, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước và xử lý tác động môi trường.

Nếu chỉ lấy số vốn đăng ký làm thước đo chính, chính sách thu hút đầu tư có thể nghiêng về cạnh tranh số lượng, trong khi những lợi ích dài hạn như năng lực công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, chất lượng việc làm và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước chưa được lượng hóa đầy đủ.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị đã đặt ra định hướng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững; trong đó nhấn mạnh công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD, đồng thời nâng tỷ trọng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển.

Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả có thể kiểm chứng

Để thu hút FDI, Nhà nước và địa phương có thể phải dành nhiều nguồn lực: đất đai, hạ tầng khu công nghiệp, giao thông kết nối, điện, nước, đào tạo lao động, cải cách thủ tục và các chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê đất hoặc hỗ trợ đầu tư.

Những nguồn lực đó có thể tạo ra hiệu ứng phát triển lớn nếu dự án phù hợp với quy hoạch, có công nghệ tiên tiến, tạo việc làm chất lượng cao và hình thành liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng nếu dự án sử dụng nhiều đất, nhiều hạ tầng và hưởng ưu đãi lớn mà đóng góp ngân sách, chuyển giao công nghệ hoặc liên kết nội địa hạn chế, thì chi phí cơ hội đối với nền kinh tế cần được tính đến.

Vấn đề vì vậy không phải là có nên ưu đãi đầu tư hay không, mà là ưu đãi được thiết kế theo tiêu chí nào, được trao cho dự án nào và được đánh giá sau đầu tư ra sao. Một cơ chế ưu đãi theo kết quả cần làm rõ các chỉ tiêu cam kết: vốn thực hiện, tiến độ giải ngân, số lượng và chất lượng việc làm, tỷ lệ mua hàng trong nước, chi phí nghiên cứu - phát triển, mức độ chuyển giao công nghệ, đóng góp ngân sách, tiêu chuẩn môi trường và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng.

Nếu các cam kết chỉ dừng trong hồ sơ cấp phép mà thiếu cơ chế theo dõi sau đầu tư, chính sách ưu đãi có nguy cơ trở thành chi phí công nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ về hiệu quả.

Kiểm toán cần theo dõi cả vòng đời dự án

Từ góc nhìn kiểm toán, FDI không nên chỉ được xem xét ở thời điểm cấp phép hoặc khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính. Đối tượng đánh giá cần bao quát cả vòng đời dự án và mối quan hệ giữa nguồn lực công đã sử dụng với kết quả phát triển đạt được.

Trước hết, cần đánh giá việc lựa chọn dự án có phù hợp quy hoạch, chiến lược ngành và năng lực hạ tầng hay không. Tiếp đó là việc giao đất, cho thuê đất, xác định nghĩa vụ tài chính và thực hiện các chính sách ưu đãi có minh bạch, đúng căn cứ và tương xứng với lợi ích dự kiến hay không.

Sau khi dự án đi vào hoạt động, cần tiếp tục theo dõi vốn thực hiện, tiến độ, công suất, đóng góp ngân sách, chất lượng việc làm, chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước và các nghĩa vụ về môi trường.

Đặc biệt, cần phân biệt rõ giữa kết quả do dự án trực tiếp tạo ra và kết quả có được nhờ ưu đãi, hạ tầng hoặc nguồn lực công mà Nhà nước đã cung cấp. Đây là cơ sở để đánh giá chính sách thu hút đầu tư có thực sự tạo thêm giá trị hay chỉ phân bổ lại lợi ích giữa các chủ thể.

Việc Thành phố Hồ Chí Minh thu hút hơn 4,2 tỷ USD vốn FDI trong 9 tháng là một chỉ dấu quan trọng về sức hấp dẫn đầu tư. Nhưng chỉ dấu quyết định hơn trong giai đoạn tới sẽ là bao nhiêu dự án tạo ra công nghệ, năng lực sản xuất, việc làm chất lượng cao và liên kết bền vững với doanh nghiệp trong nước.

Thu hút FDI trong giai đoạn mới không thể chỉ là cuộc đua về số vốn đăng ký. Đó phải là quá trình lựa chọn và quản trị những dòng vốn có khả năng bổ sung nội lực, nâng cấp năng lực sản xuất và tạo ra giá trị lan tỏa. Khi Nhà nước dành đất đai, hạ tầng, ưu đãi và nhiều nguồn lực công cho nhà đầu tư, thước đo của chính sách không chỉ nằm ở quy mô vốn thu hút, mà ở những kết quả cụ thể mà nền kinh tế nhận được.

ĐỨC MINH

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/thu-hut-fdi---do-gia-tri-tu-nhung-nguon-luc-cong