Thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong kỷ nguyên mới

Trong lịch sử, hiền tài góp phần dựng nước, giữ nước thì nay trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhân tài càng là một nguồn lực quan trọng quyết định khả năng làm chủ khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Đặc biệt khi chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài đã không còn đơn thuần là một chính sách về cán bộ hay nguồn nhân lực, mà đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược của quốc gia.

Việt Nam có cơ hội bứt phá lớn khi xây dựng được đội ngũ nhân tài mạnh để biến tri thức thành công nghệ, sản phẩm đủ năng lực cạnh tranh củng cố sức mạnh quốc gia

Việt Nam có cơ hội bứt phá lớn khi xây dựng được đội ngũ nhân tài mạnh để biến tri thức thành công nghệ, sản phẩm đủ năng lực cạnh tranh củng cố sức mạnh quốc gia

Nhân tài góp phần làm nên cơ đồ, vị thế đất nước

Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, đặc biệt những năm gần đây, dấu ấn của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân, cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người lao động có năng lực nổi trội hiện diện trong hầu hết thành tựu của đất nước. Từ hạ tầng, công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục đến công nghệ thông tin, chuyển đổi số, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, ở đâu cũng có sự đóng góp của những con người có trí tuệ, bản lĩnh, sáng tạo và khát vọng cống hiến.

Trong giai đoạn 2021-2025, dù thế giới biến động phức tạp, Việt Nam vẫn đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu; tăng trưởng GDP bình quân 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Đằng sau những con số đáng tự hào ấy có sự đóng góp của trí tuệ, năng lực tổ chức và tinh thần dấn thân của hàng triệu con người, trong đó có những nhân tài đang âm thầm tạo ra giá trị cho đất nước.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu về nhân lực chất lượng cao càng cấp thiết. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới đòi hỏi Việt Nam phải tạo ra tốc độ tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao mạnh mẽ chất lượng tăng trưởng. Mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10%/năm trở lên khó có thể đạt được chỉ bằng tăng vốn, mở rộng đầu tư hay khai thác tài nguyên. Động lực quyết định phải đến từ năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực.

Khi mục tiêu đặt ra là năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55% vào tăng trưởng và kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030, chất xám trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng nhất. Thế kỷ XXI đang diễn ra cuộc cạnh tranh về công nghệ, dữ liệu và trí tuệ con người. Quốc gia nào sở hữu đội ngũ nhân tài mạnh sẽ có lợi thế trong tạo ra công nghệ mới, xây dựng ngành công nghiệp mới, nâng cao năng suất và củng cố năng lực tự chủ chiến lược.

Với Việt Nam, những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ lượng tử, tự động hóa, an ninh mạng, công nghệ quốc phòng... cần được xem là những lĩnh vực ưu tiên trong cuộc cạnh tranh phát triển. Nhân tài vì thế không nên được hiểu đơn giản là người có học hàm, học vị cao hay sở hữu những tấm bằng danh giá. Một người có thể là nhân tài bởi họ có năng lực giải quyết một bài toán mà đất nước đang cần, tạo ra sản phẩm có giá trị, mở ra công nghệ mới, xây dựng doanh nghiệp có sức cạnh tranh, đề xuất chính sách hiệu quả hoặc đào tạo được thế hệ kế cận.

Nhận diện nhân tài phải chuyển từ “đếm bằng cấp” sang đánh giá năng lực, tư duy sáng tạo, sản phẩm, thành tích, uy tín nghề nghiệp và giá trị cống hiến. Quan trọng hơn, phải đặt nhân tài vào những bài toán cụ thể để họ có không gian phát huy năng lực.

Từ “trải thảm đỏ” đến tạo đất dụng võ

Đảng và Nhà nước đã có những quyết sách quan trọng về để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Trong đó, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đồng thời yêu cầu có cơ chế đặc biệt để phát hiện, đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài. Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn, phát triển đại học nghiên cứu thành hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng tạo cơ sở chuyển mạnh từ tư duy “bao cấp nghiên cứu” sang đầu tư cạnh tranh, lấy hiệu quả và sản phẩm làm thước đo. Trong lĩnh vực bán dẫn, Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo khoảng 50.000 kỹ sư đến năm 2030, đồng thời hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn để đào tạo nhân lực AI và bán dẫn.

Những điều đó cho thấy nhân tài khoa học - công nghệ đang được đặt vào vị trí trung tâm hơn trong chiến lược phát triển. Nhưng “trải thảm đỏ” chỉ có ý nghĩa khi phía sau là một môi trường đủ hấp dẫn để người tài ở lại và cống hiến. Thu hút nhà khoa học hàng đầu không thể chỉ bằng mức đãi ngộ cao nhưng lại buộc họ mất quá nhiều thời gian cho thủ tục. Không thể mời chuyên gia quốc tế về Việt Nam nhưng để họ gặp khó khăn về cư trú, thuế, nhà ở, giáo dục hay công nhận bằng cấp. Cũng không thể nói trọng dụng nhân tài nhưng không trao quyền, nguồn lực và quyền quyết định tương xứng với nhiệm vụ.

Vì vậy, chính sách nhân tài phải chuyển từ “ưu đãi đầu vào” sang “bảo đảm điều kiện cống hiến”. Người tài cần được giao nhiệm vụ rõ ràng, trao quyền hạn tương xứng, bảo đảm nguồn lực và đánh giá bằng kết quả. Một điểm quan trọng trong định hướng xây dựng chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài là yêu cầu gắn nhân tài với nhiệm vụ cụ thể.

Thu hút một người tài về nhưng không biết giao cho họ làm gì thì chẳng khác nào có “ngọc quý” nhưng không biết dùng vào đâu. Ngược lại, nếu xác định rõ một bài toán quốc gia, dự án chiến lược hay nhiệm vụ khoa học - công nghệ rồi tìm đúng người có khả năng giải quyết, hiệu quả sẽ hoàn toàn khác. Mỗi nhân tài chủ chốt cần được giao một “gói nhiệm vụ” gồm mục tiêu, quyền quyết định, quyền lựa chọn cộng sự, dữ liệu, hạ tầng, ngân sách, đãi ngộ, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra. Thành công phải được đo bằng kết quả và tác động thực tế chứ không phải số lượng báo cáo hay bằng cấp.

Một quốc gia khó có thể có đội ngũ nhân tài mạnh nếu chỉ tập trung “săn” những người đã thành danh. Nguồn nhân tài bền vững nhất phải được hình thành từ chính hệ thống giáo dục, nghiên cứu và đào tạo trong nước. Cần phát hiện tài năng từ sớm, có chương trình đào tạo chuyên biệt cho học sinh, sinh viên xuất sắc; xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh; tạo điều kiện để nhà khoa học trẻ tiếp cận nhiệm vụ lớn và hình thành lực lượng kế cận. Chúng ta cũng cần mở rộng không gian cống hiến cho người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế. Việc nghiên cứu mô hình “Thị thực nhân tài Việt Nam”, cùng cơ chế một cửa, minh bạch về cư trú, lao động, thuế, nhà ở, y tế, giáo dục và công nhận trình độ, sẽ tạo thêm sức hút cho Việt Nam trong cuộc cạnh tranh nhân tài toàn cầu.

Một chính sách nhân tài sẽ thành công khi người tài thực sự muốn cống hiến và nhìn thấy con đường phát triển lâu dài. Bên cạnh tiền lương và ưu đãi vật chất, cần tạo môi trường công bằng, minh bạch, tôn trọng chuyên môn và khuyến khích sáng tạo. Đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình càng đòi hỏi phải tuyển chọn đúng người, bố trí đúng việc, trao đúng quyền để phát huy cao nhất tài năng, trí tuệ phục vụ lợi ích chung.

Chúng ta hiện đang có cơ hội lớn để bứt phá nhờ lực lượng lao động trẻ, khả năng tiếp cận nhanh công nghệ và vị thế ngày càng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng cơ hội chỉ trở thành hiện thực khi đất nước xây dựng được đội ngũ nhân tài đủ mạnh để biến tri thức thành công nghệ, công nghệ thành sản phẩm, sản phẩm thành năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh thành sức mạnh quốc gia. Nếu tạo dựng được cơ chế để mọi tài năng đều có cơ hội được phát hiện, người giỏi đều có đất dụng võ, đóng góp chính đáng đều được ghi nhận và thành quả đều được đo bằng giá trị thực tế, Việt Nam sẽ tạo được nguồn lực đặc biệt cho chặng đường phát triển mới. Đó là một nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, nâng cao năng lực tự chủ, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và vững bước tiến lên trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Quốc gia nào sở hữu đội ngũ nhân tài mạnh sẽ có lợi thế trong tạo ra công nghệ mới, xây dựng ngành công nghiệp mới, nâng cao năng suất và củng cố năng lực tự chủ chiến lược.

HOÀNG HÀ

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/thu-hut-trong-dung-va-phat-trien-nhan-tai-trong-ky-nguyen-moi-post664767.antd