Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn: Tăng trưởng 2 con số là yêu cầu không thể chậm trễ
Việc đạt tăng trưởng hai con số đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cải cách thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển công nghệ...

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, người dân và doanh nghiệp (DN) cần quán triệt sâu sắc “bốn nguyên tắc” cốt lõi trong tăng trưởng hai con số, trong đó có tăng trưởng thực chất, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn… Đây được xem là định hướng lớn, không chỉ cho giai đoạn trước mắt mà còn mang tính chiến lược dài hạn đối với nền kinh tế. Song bài toán đặt ra cho nền kinh tế không chỉ là tăng tốc mà phải bảo đảm phát triển bền vững.
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ, là điều kiện tiên quyết để đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng các đại biểu dự Hội nghị “Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng tri ân doanh nghiệp” vào ngày 27-3. Ảnh: VGP
Gắn kết, tạo động lực từ “ba chân kiềng”
. Phóng viên: Thưa Thứ trưởng, năm 2025 ghi nhận nhiều đột phá của kinh tế Việt Nam, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo. Vậy tình hình sản xuất, kinh doanh của các DN đang diễn ra như thế nào?
+ Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn: Tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 1 triệu DN đang hoạt động, tăng hơn 25% so với năm 2020. Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ.
Từ tháng 5-2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 DN thành lập mới, tăng 38% so với bình quân bốn tháng đầu năm. Năm 2025, cả nước có gần 298.000 DN thành lập mới và trở lại hoạt động. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 33% GDP. Đến hết năm 2025, quy mô thị trường cổ phiếu đạt khoảng 86,7% GDP, thị trường trái phiếu đạt khoảng 30% GDP
Đáng chú ý, năm 2025, cả nước đã đồng loạt khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư khoảng 5,2 triệu tỉ đồng, trong đó nguồn vốn tư nhân chiếm gần 75%.
Hiện nay, khu vực DN đóng góp khoảng 60% GDP, thu hút hơn 16 triệu lao động. Trong đó, DN nhà nước đóng góp chủ yếu vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và tiếp tục giữ vai trò đầu tàu trong nhiều ngành, lĩnh vực trọng yếu.
Khu vực kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế cũng từng bước hình thành các tập đoàn mang thương hiệu tầm cỡ khu vực và quốc tế. Còn khu vực FDI tiếp tục là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế khi Việt Nam đã thuộc nhóm 15 quốc gia thu hút FDI lớn nhất thế giới. “Ba chân kiềng” này đang từng bước gắn kết, tạo động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc về thể chế, pháp luật, chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Việc phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh… trong một số lĩnh vực chưa triệt để. Các vấn đề pháp lý tồn đọng của một số dự án đầu tư chưa được giải quyết dứt điểm…

Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn.
DN là chủ thể kiến tạo tăng trưởng
. Năm 2026, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động khó lường, áp lực lạm phát cùng xu hướng suy giảm tăng trưởng tại nhiều nền kinh tế lớn thì mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức lớn. Với tình hình mới, bài toán đặt ra cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế là gì, thưa ông?
+ Giai đoạn 2026-2030, bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cả thời cơ lớn lẫn thách thức rất gay gắt. Tôi cho rằng đây vừa là sức ép nhưng cũng vừa là động lực cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Thực tế cho thấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ, là điều kiện tiên quyết ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể đạt mục tiêu đề ra nếu chỉ dựa vào các động lực truyền thống và cách làm cũ. Chúng ta cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Trên nền tảng Nhà nước kiến tạo phát triển, thể chế hiện đại, đồng bộ cần phát huy cao nhất tri thức, khoa học công nghệ cũng như năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.
Đây thực chất là một cuộc cải cách toàn diện, trong đó DN được đặt ở vị trí trung tâm của các chính sách và là chủ thể kiến tạo tăng trưởng. Trong đó, DN tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất; DN nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu… để dẫn dắt khu vực tư nhân, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi. Mặt khác, các DN FDI sẽ là nguồn lực bổ sung quan trọng, gắn kết chặt chẽ hơn với DN trong nước. Ba khu vực này phải hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau, tạo thành hệ sinh thái DN năng động, hiệu quả, bền vững.
Trong tổng thể đó, chúng ta cần chuyển mạnh nhận thức và cách tiếp cận. DN không chỉ là “đối tượng phục vụ” hay thực thi chính sách mà là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và tham gia định hình chiến lược phát triển quốc gia. Các DN lớn phải trở thành lực lượng dẫn dắt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Phải nhấn mạnh rằng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới đặt ra những thay đổi căn bản trong tư duy điều hành. Cụ thể, từ “ổn định để phát triển” sang “ổn định để bứt phá”; từ “cải thiện môi trường kinh doanh” sang “kiến tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia”; đặc biệt là từ “hỗ trợ DN” sang “trao quyền và đồng hành để DN trở thành lực lượng kiến tạo tăng trưởng”.

Doanh nghiệp không chỉ là “đối tượng phục vụ” hay thực thi chính sách mà là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và tham gia định hình chiến lược phát triển quốc gia. Ảnh: QUANG HUY
Hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình mới
. Vậy chúng ta cần những giải pháp cụ thể nào để kiên trì mục tiêu tăng trưởng này?
+ Đầu tiên, về phía cơ quan quản lý, cần quyết liệt hoàn thiện thể chế, cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực giữa các khu vực DN.
Cùng với đó là hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, cho phép áp dụng cơ chế sandbox, cơ chế chuyên biệt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, trọng tâm là công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, công nghệ chiến lược, công nghệ mới...
Về phía DN, theo tôi, cần chủ động đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đồng thời, nâng cao năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh.
DN cũng phải tiên phong tham gia các dự án lớn, chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia, trọng điểm…, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên phục vụ mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng hai con số. Việc nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chiến lược sẽ giúp đất nước tiến tới tự lực, tự chủ và tự cường về khoa học công nghệ. Ngoài ra, chúng ta tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã hoặc cam kết sẽ tham gia.
Các hiệp hội DN cũng cần tăng cường liên kết giữa các DN - hội viên, giữa DN trong nước và nước ngoài, đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Song song đó, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ, phát huy hiệu quả vai trò cầu nối giữa Nhà nước và cộng đồng DN.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về tốc độ, mà là yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây vừa là nhiệm vụ kinh tế, vừa là sứ mệnh chiến lược để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong tiến trình đó, DN phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tạo dựng vị thế của Việt Nam trong bản đồ kinh tế toàn cầu.
. Xin cảm ơn ông.
Cần 38,5 triệu tỉ đồng vốn đầu tư để tăng trưởng hai con số
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021-2025 (khoảng 17,4 triệu tỉ đồng). Theo đó, vốn đầu tư toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân khoảng 16%/năm, nâng tỉ lệ đầu tư/GDP từ khoảng 33% giai đoạn 2021-2025 lên khoảng 40% giai đoạn 2026-2030.
Đại diện Cục Thống kê cho rằng việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Đầu tư công cần tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng then chốt. Tăng cường giải ngân vốn đầu tư công đúng tiến độ, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí…
*****
Động lực tăng trưởng từ nội lực và đầu tư công
Kinh tế Việt Nam thời gian qua dù đối mặt với nhiều biến động của địa chính trị thế giới nhưng vẫn duy trì nhịp tăng trưởng tốt. Trong nước, các động lực tăng trưởng truyền thống vẫn đóng vai trò chủ đạo và khởi sắc rõ rệt. Trước hết là hoạt động xuất nhập khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ đã thúc đẩy sản xuất trong nước và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng.
Đầu tư khu vực tư nhân gia tăng mạnh mẽ, thể hiện qua số lượng DN thành lập mới và trở lại hoạt động. Đây là cấu phần quan trọng của tổng cầu, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP. Nguồn vốn FDI tiếp tục tăng cả về đăng ký mới và giải ngân, giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh ngay từ đầu năm… Bên cạnh đó, những nỗ lực thúc đẩy kinh tế số, đổi mới sáng tạo và cải thiện môi trường kinh doanh đang tạo nền tảng cho tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ.
TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam.
Tuy nhiên, diễn biến khó lường ở Trung Đông bắt đầu tác động trực tiếp đến DN như gián đoạn chuỗi cung ứng, tăng chi phí vận tải, bảo hiểm, logistics…
Về dài hạn, rủi ro lạm phát toàn cầu có thể khiến các ngân hàng trung ương điều chỉnh chính sách tiền tệ, từ đó gây áp lực lên tỉ giá và lãi suất, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN.
Điều quan trọng nhất lúc này là nâng cao năng lực nội sinh của DN và nền kinh tế. DN cần tăng cường quản trị rủi ro về thị trường, tài chính và tỉ giá. Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là cần thiết nhưng phải làm bài bản. Đồng thời, DN cũng phải chủ động tính toán các biến động về chi phí, chuẩn bị kịch bản dài hạn cho tình trạng suy giảm nhu cầu tại các thị trường lớn nếu lạm phát gia tăng.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững, thực chất, đầu tư công là cấu phần rất quan trọng của tổng cầu. Với quy mô gần 1 triệu tỉ đồng, nếu giải ngân hiệu quả, nguồn vốn này sẽ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, mở ra không gian tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển hạ tầng, đổi mới sáng tạo và kích thích đầu tư tư nhân. Ngoài ra, Việt Nam có thị trường hơn 100 triệu dân, với cơ cấu dân số trẻ cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy tiêu dùng…
Mặc dù nền kinh tế và thị trường tiền tệ nhìn chung vẫn duy trì sự ổn định, song tôi khuyến nghị ưu tiên hàng đầu hiện nay vẫn là giữ vững kinh tế vĩ mô. Đồng thời có các chính sách hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, đặc biệt là kiểm soát lạm phát và ổn định tỉ giá. Đây là hai chỉ số có ý nghĩa then chốt đối với sự ổn định của nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc đạt được các mục tiêu này không thể chỉ dựa vào chính sách tiền tệ mà cần có sự phối hợp chặt chẽ với các chính sách khác như tài khóa, điều hành thị trường và các biện pháp hỗ trợ sản xuất. Bên cạnh đó, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thể chế và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những yếu tố then chốt giúp DN củng cố các động lực tăng trưởng hiện có và đầu tư vào các mô hình tăng trưởng mới.
TS LÊ DUY BÌNH, Giám đốc Economica Việt Nam
******
Ý KIẾN
GS-TS HOÀNG VĂN CƯỜNG, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ:
Giữ vững nền tảng vĩ mô
Tăng trưởng hai con số là mục tiêu dài hạn mang tính chiến lược để Việt Nam vươn lên trở thành nước có thu nhập cao. Tuy nhiên, đây là thách thức không nhỏ, đặc biệt khi ngay từ đầu năm 2026 đã xuất hiện nhiều yếu tố bất lợi. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ trọng tâm là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giữ tỉ giá ổn định. Đây là nền tảng vững chắc để nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn, góp phần cho tăng trưởng thực chất.
Bên cạnh đó, cần sử dụng mạnh mẽ hơn các công cụ chính sách tài khóa để hỗ trợ giảm chi phí đầu vào, đồng thời tăng cường điều hành nguồn cung, bảo đảm không xảy ra đứt gãy.
Việt Nam cũng có thể tranh thủ cơ hội để thu hút dòng vốn quốc tế khi môi trường đầu tư thay đổi, đặc biệt khi hình thành các trung tâm tài chính quốc tế. Việc chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị cũng được xem là hướng đi quan trọng.
Thay vì tăng trưởng bằng mọi giá, chúng ta phải chấp nhận những điều chỉnh phù hợp để đạt được sự bền vững.
-----
PGS-TS NGUYỄN THƯỜNG LẠNG, ĐH Kinh tế quốc dân:
Tập trung vào mô hình thông minh
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam cần tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới và trụ cột quan trọng là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Định hướng này cũng được nhấn mạnh tại Đại hội XIV của Đảng, khi yêu cầu “xác lập mô hình tăng trưởng, rộng hơn là mô hình phát triển mới dựa trên tiến bộ khoa học công nghệ”.
Kinh nghiệm từ các “con rồng châu Á” như Hong Kong, Đài Loan, Singapore cho thấy việc ứng dụng công nghệ một cách quyết liệt là chìa khóa để nâng cao năng suất lao động. Từ kinh nghiệm này, Việt Nam nếu muốn đi xa và nhanh cần gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), ưu tiên các ngành công nghệ mới có sức lan tỏa lớn, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ năng lượng.
Việc đẩy mạnh đầu tư vào khoa học công nghệ không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao khả năng thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Trọng tâm giai đoạn tới là cần hướng tới những mô hình phát triển thông minh, phù hợp với xu thế toàn cầu. Đây là tiêu điểm mới, là yếu tố cốt lõi, trụ cột cốt lõi để thực thi thành công mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.
-----
TS NGUYỄN BÍCH LÂM, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê):
Thể chế là nền tảng của tăng trưởng
Để tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần triển khai nhiều trụ cột với hàm lượng kinh tế rõ ràng và cơ sở thực chứng cụ thể, trong đó có cải cách thể chế.
Thể chế là nền tảng của tăng trưởng. Nếu thể chế chậm trễ, thiếu minh bạch, không dự báo được, mọi nỗ lực đầu tư sẽ bị triệt tiêu bởi chi phí cơ hội.
Mỗi bộ, ngành, địa phương cần công bố rõ thời gian xử lý hồ sơ đầu tư; thời hạn phê duyệt đất đai, xây dựng; thời gian thông quan; thời hạn hoàn thuế. Nếu trễ hạn, cơ quan có trách nhiệm phải giải trình và chịu chế tài tương ứng. Cách làm này chuyển đổi tư duy từ “quản lý - cấp phép” sang “phục vụ - cam kết”.
Khi phí giao dịch càng thấp, hiệu quả phân bổ nguồn lực càng cao, tốc độ tăng trưởng càng lớn. Nếu thủ tục hành chính kéo dài, thiếu dự báo, DN phải chịu “thuế thời gian” và “thuế bất định”.
Song song đó là tháo gỡ tâm lý sợ sai để khôi phục động lực quyết định chính sách. Tăng trưởng cao đòi hỏi tốc độ ra quyết định nhanh. Khi cán bộ e ngại trách nhiệm, quá trình phê duyệt bị kéo dài, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn và cơ hội thị trường. Chi phí tâm lý có thể tạo ra trì hoãn hệ thống. Do đó cần hoàn thiện pháp luật theo hướng rõ ràng, giảm “vùng xám” phân cấp, phân quyền thực chất đi kèm kiểm soát quyền lực. Điều này giúp làm giảm “chi phí trì hoãn” và cải thiện hiệu suất chính sách bởi ra quyết định chậm sẽ làm mất cơ hội, mất cơ hội là mất tăng trưởng.
Một yếu tố nữa là tái định vị chiến lược sản xuất để nâng giá trị gia tăng. Trong chuỗi giá trị toàn cầu, phần lớn giá trị nằm ở khâu thiết kế, R&D, thương hiệu và dịch vụ hậu mãi. Nếu chỉ gia công, tỉ suất lợi nhuận và đóng góp của TFP thấp. Cùng với đó là tăng tỉ trọng giá trị nội địa, liên kết vùng có hiệu quả nhằm tạo ra “quy mô đủ lớn” để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu…
Nếu chúng ta triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nền kinh tế sẽ có nền tảng vững chắc để bước vào quỹ đạo phát triển mới. Tăng trưởng hai chữ số không đến từ kỳ vọng mà đến từ cấu trúc kinh tế đúng và quản trị hiệu quả.
MINH TRÚC ghi












