Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn: Sửa Luật, làm rõ bản sắc văn hóa trong kiến trúc
'Việc sửa luật Kiến trúc lần này phải cụ thể hóa nội hàm 'bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, gắn kiến trúc với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, văn hóa vùng miền', Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn nhấn mạnh.
Sửa Luật Kiến trúc, trình Quốc hội trong năm 2026
Ngày 3/4, tại TP.HCM, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn chủ trì hội thảo "Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc năm 2019, hướng tới phát triển kiến trúc bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu". Đây là một nội dung quan trọng trong Chương trình xây dựng pháp luật năm 2026, nhằm chuẩn bị hồ sơ trình Chính phủ và Quốc hội xem xét tại kỳ họp tới.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn phát biểu tại hội thảo Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc năm 2019, hướng tới phát triển kiến trúc bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu.
Tại hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Kiến trúc là nhiệm vụ trọng tâm trong Chương trình xây dựng pháp luật năm 2026, nhằm đảm bảo hồ sơ trình Chính phủ và Quốc hội đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Sau hơn 5 năm triển khai, Luật Kiến trúc năm 2019 đã từng bước khẳng định vai trò là công cụ pháp lý quan trọng trong quản lý và phát triển kiến trúc Việt Nam. Luật đã thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong nước và hội nhập quốc tế; góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hiệu lực của hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn cho biết quá trình triển khai vẫn còn nhiều tồn tại. Một số quy định của Luật và Nghị định 85/2020/NĐ-CP còn mang tính nguyên tắc, thiếu tiêu chí định lượng nên khó áp dụng thống nhất. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng chồng chéo, chưa đồng bộ với các luật liên quan, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện. Một số khái niệm còn chung chung, thiếu rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định đầy đủ đối với các lĩnh vực mới như kiến trúc không gian ngầm, kiến trúc xanh, kiến trúc thích ứng biến đổi khí hậu, kiến trúc thông minh và chuyển đổi số trong lĩnh vực kiến trúc.
Trên cơ sở đó, việc sửa đổi Luật Kiến trúc cần tập trung vào các định hướng lớn: Hoàn thiện công cụ quản lý kiến trúc, đặc biệt là quy chế quản lý kiến trúc; nghiên cứu, thể chế hóa các xu hướng kiến trúc xanh, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và hành nghề kiến trúc; hoàn thiện cơ chế hành nghề theo chuẩn quốc tế. Cùng với đó, cần rà soát thẩm quyền quản lý kiến trúc phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xử lý tình trạng chồng chéo giữa các hệ thống pháp luật, phát triển thị trường dịch vụ kiến trúc minh bạch, cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.
"Việc sửa luật lần này phải cụ thể hóa nội hàm "bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, gắn kiến trúc với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, văn hóa vùng miền", Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn nhấn mạnh.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn, việc sửa đổi Luật Kiến trúc không chỉ nhằm hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước mà còn góp phần cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa, khẳng định kiến trúc là trụ cột quan trọng trong xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao chất lượng không gian sống của người dân.
"Bộ Xây dựng cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, tổ chức nghề nghiệp và chuyên gia để hoàn thiện dự án luật, bảo đảm chất lượng, tiến độ trình Chính phủ và Quốc hội, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới", Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn khẳng định.

Quang cảnh buổi hội thảo.
Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14, ông Vũ Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Quy hoạch - Kiến trúc, cho biết Luật có hiệu lực từ năm 2020, đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quản lý kiến trúc, hành nghề kiến trúc và định hướng phát triển không gian đô thị, nông thôn.
Sau hơn 5 năm thực thi, Luật góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò kiến trúc, kiểm soát không gian và cảnh quan, cải thiện môi trường sống, đồng thời hình thành các công cụ quản lý như quy chế quản lý kiến trúc, thi tuyển phương án và cấp chứng chỉ hành nghề. Hệ thống văn bản hướng dẫn được ban hành kịp thời, công tác tuyên truyền, tập huấn từ Trung ương đến địa phương giúp nâng cao năng lực thực thi, dù còn chênh lệch giữa các vùng.
Trong thực tiễn, nhiều địa phương đã ban hành quy chế quản lý kiến trúc, lập danh mục công trình có giá trị, triển khai thi tuyển phương án kiến trúc, góp phần nâng cao chất lượng thiết kế, kiểm soát không gian và bảo tồn bản sắc đô thị, nông thôn. Hoạt động phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) và cấp chứng chỉ hành nghề được thực hiện tương đối đồng bộ, chuẩn hóa đội ngũ kiến trúc sư.
Luật cũng thúc đẩy cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn theo hướng hiện đại, có kiểm soát, gắn với phát triển bền vững, đồng thời tạo môi trường đầu tư xây dựng minh bạch, thuận lợi và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.

Ông Vũ Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Quy hoạch - Kiến trúc.
Tuy nhiên, Luật cũng bộc lộ một số hạn chế như: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chồng chéo với các luật về đất đai, quy hoạch, xây dựng, gây khó khăn trong thực thi. Công cụ quản lý kiến trúc ở một số địa phương triển khai chậm, hiệu quả chưa cao; thi tuyển phương án kiến trúc còn hạn chế; quản lý hành nghề và CPD chưa thực sự chặt chẽ. Năng lực tổ chức thực hiện, nguồn lực tài chính và nhận thức về kiến trúc còn chưa đồng đều.
Do đó, việc tổng kết và sửa đổi Luật là cần thiết nhằm đảm bảo đồng bộ với các luật liên quan, nâng cao chất lượng kiến trúc và năng lực hành nghề, thúc đẩy kiến trúc xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, đồng thời tăng cường hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trên cả nước.
Thảo luận tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung ba nhóm nội dung chính: tổng kết thi hành Luật Kiến trúc và định hướng sửa đổi; hoạt động hành nghề kiến trúc và kinh nghiệm quốc tế; định hướng phát triển kiến trúc bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu.
Các quy định quản lý kiến trúc cần linh hoạt, tránh cứng nhắc
Ông Lê Quang Nam, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, nhấn mạnh cần quan tâm yếu tố đặc thù vùng miền, sớm làm rõ các khái niệm như kiến trúc xanh, bền vững, thích ứng khí hậu, làm cơ sở xây dựng quy định cụ thể.
Ông Nam lưu ý nhiều công trình hiện nay chạy theo xu hướng quốc tế, sử dụng vật liệu kính và thiết kế hiện đại nhưng chưa phù hợp khí hậu nhiệt đới, tiêu tốn nhiều năng lượng và chi phí vận hành; do đó cần ưu tiên thông gió tự nhiên, năng lượng tái tạo, hạn chế phụ thuộc thiết bị cơ học.

Ông Lê Quang Nam, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng.
Đồng thời, xây dựng các quy định quản lý kiến trúc cần linh hoạt, tránh vừa cứng nhắc vừa buông lỏng, đáp ứng thực tiễn từng địa phương.
"Chúng ta không thể sao chép máy móc các mô hình kiến trúc nước ngoài mà cần điều chỉnh phù hợp với điều kiện khí hậu, văn hóa và nhu cầu thực tế của Việt Nam", Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Ngọc Vệ, Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh An Giang cho biết thực tiễn quản lý xây dựng tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt liên quan đến các khu vực bãi đổ thải, san lấp.
Theo ông Vệ, nhiều vị trí nằm xa khu dân cư, có nơi cách 7-25km, khiến công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm gặp không ít trở ngại. Bên cạnh đó, việc phân định giữa hoạt động đổ đất san lấp và đổ thải vẫn chưa rõ ràng, dẫn đến lúng túng trong áp dụng quy định.
Từ đó, ông Vệ kiến nghị cần làm rõ trách nhiệm quản lý và có hướng dẫn cụ thể để đảm bảo thống nhất trong thực hiện.

Ông Nguyễn Ngọc Vệ, Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh An Giang.
Một vấn đề khác được ông Vệ nêu là sự chồng chéo giữa quy hoạch xây dựng và quy chế quản lý kiến trúc. Trong nhiều trường hợp, quy hoạch đã được lập chi tiết nhưng vẫn yêu cầu bổ sung quy chế kiến trúc, gây phát sinh thủ tục và khó khăn cho địa phương.
Do đó, cần xác định rõ trường hợp bắt buộc lập quy chế, tránh trùng lặp không cần thiết.
Ngoài ra, Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh An Giang phản ánh bất cập trong việc áp dụng quy chuẩn về khoảng lùi công trình. Nhiều khu dân cư hiện hữu đã xây dựng ổn định nhưng không đáp ứng quy chuẩn mới, dẫn đến khó khăn khi cải tạo, chỉnh trang.
"Thực tiễn địa phương cho thấy nếu quy định quá cứng nhắc sẽ khó triển khai, nhưng nếu thiếu hướng dẫn cụ thể cũng dễ dẫn đến lúng túng trong quản lý. Do đó, cần có cơ chế linh hoạt, phù hợp thực tế để địa phương có cơ sở áp dụng thống nhất", ông Vệ nhấn mạnh.












