Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Tấm gương sáng ngời về tinh thần tận hiến, phụng sự Tổ quốc
Thủ tướng Phạm Văn Đồng là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Từ những năm tháng hoạt động cách mạng gian khổ đến khi giữ cương vị người đứng đầu Chính phủ, ông luôn thể hiện rõ tinh thần yêu nước sâu sắc, bản lĩnh chính trị vững vàng và đức tính liêm khiết, tận tụy.

Học sinh nghe thuyết minh về cuộc đời, sự nghiệp cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thông qua các hiện vật tại Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: Đinh Hương/TTXVN
Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1/3/1906 - 1/3/2026), Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN, nêu bật cốt cách và những đóng góp to lớn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Thưa Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, ông đánh giá về tinh thần yêu nước và sự tận hiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng?
Thay vì nhìn nhận sự tận hiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một khái niệm trừu tượng, tôi muốn nhìn nhận đó là một sự lựa chọn dấn thân đầy lý trí. Nhìn lại hơn ba thập kỷ ông đứng đầu Chính phủ, tôi thấy ba điểm nhấn mang tính đột phá trong tinh thần yêu nước của ông: Thứ nhất, yêu nước là trách nhiệm tổ chức cuộc sống cho nhân dân: Đối với cố Thủ tướng, lòng yêu nước phải được đo bằng hiệu quả điều hành quốc gia. Ông không chấp nhận chỉ nhiệt huyết mà thiếu đi hiệu quả thực tế. Tinh thần ấy thể hiện rõ qua quan điểm: “Quản lý một đất nước đang có chiến tranh là một nghệ thuật và khoa học tổ chức cực kỳ tinh vi”. Ông đã chuyển hóa tình cảm yêu nước thành những quyết sách cụ thể về năng suất, thành các phong trào thi đua thiết thực, quyết tâm biến lý tưởng cách mạng thành cơm ăn, áo mặc và sự bình yên cho mỗi gia đình.
Thứ hai, sự tận hiến qua tầm nhìn “Văn hóa là sức mạnh nội sinh”: Điểm đặc sắc và rất hiện đại trong tư duy của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chính là việc đặt văn hóa và giáo dục ở vị trí trung tâm của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Ông khẳng định: “Văn hóa là đổi mới, văn hóa là sáng tạo, văn hóa là sức mạnh khơi dậy lòng yêu nước”. Ngay cả trong những giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất, ông vẫn dành tâm huyết đặc biệt để chăm lo cho sự nghiệp “trồng người”. Với ông, sự tận hiến lớn nhất là giữ gìn bằng được linh hồn và trí tuệ dân tộc, để Việt Nam không chỉ thắng trên chiến trường mà còn vững vàng trong tư thế một dân tộc văn minh.
Thứ ba, nhân cách “Dĩ công vi thượng” và tâm thế của người phụng sự: Sự tận hiến của ông còn nằm ở lối sống liêm chính, khiêm nhường đến mẫu mực, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên tất cả. Một hành động luôn làm chúng ta cảm phục là sự cầu thị tuyệt đối của ông trước giới trí thức và nhân dân. Ông từng chia sẻ một câu nói đầy day dứt: “Càng làm cách mạng lâu, tôi càng thấy mình nợ nhân dân nhiều quá. Cái nợ ấy không bao giờ trả hết được”. Chính tâm thế luôn thấy mình “mắc nợ” nhân dân đã thúc đẩy ông làm việc, cống hiến trí tuệ cho đến tận những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời.
Tóm lại, tinh thần yêu nước của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trái tim nhân hậu của một người con hiếu thảo với dân tộc và nhãn quan sắc sảo của một nhà hành pháp lỗi lạc.
Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được thể hiện như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thưa ông?
Trong giai đoạn đất nước phải đối mặt với thử thách nghiệt ngã từ hậu quả chiến tranh và sự bao vây cấm vận, bản lĩnh của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ thể hiện ở sự kiên định lập trường, mà còn ở tầm nhìn chiến lược vượt trước để hóa giải các sức ép quốc tế.
Ông là người có tầm nhìn xa khi quyết tâm đặt nền móng cho các ngành công nghiệp mũi nhọn. Việc ông ký Nghị định thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt vào ngày 3/9/1975 - chỉ vài tháng sau ngày đất nước thống nhất – là một quyết sách mang tính sinh tử. Ông hiểu rằng: Để thoát khỏi sự kìm kẹp của bao vây, cấm vận, Việt Nam phải có nội lực mạnh. Quyết định đẩy mạnh hợp tác với Liên Xô để thành lập Liên doanh Vietsovpetro đầu những năm 1980 chính là đòn bẩy chiến lược, biến tài nguyên dưới lòng biển thành sức mạnh kinh tế để giữ vững chủ quyền.
Ít ai có thể quên các chuyến thăm lịch sử của ông tới 5 nước ASEAN vào mùa Thu năm 1978. Giữa lúc khu vực còn nhiều nghi ngại, phong thái điềm tĩnh và thông điệp hòa bình của ông đã giúp các nước láng giềng hiểu rõ thiện chí của Việt Nam. Đồng thời, việc ông thăm Pháp và các nước phương Tây ngay từ năm 1977 đã mở ra những “cánh cửa hẹp” trong quan hệ quốc tế. Đó là bản lĩnh của một nhà lãnh đạo biết tìm thấy cơ hội trong khủng hoảng, chủ động đa phương hóa để ngăn chặn âm mưu cô lập đất nước.
Trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới và biển đảo, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn chỉ đạo phải dựa chắc trên các căn cứ pháp lý và lịch sử. Ông quan niệm: Sức mạnh của chính nghĩa phải được chuyển hóa thành ngôn ngữ của luật pháp quốc tế. Bản lĩnh của ông nằm ở chỗ không bao giờ nhân nhượng về chủ quyền nhưng luôn để mở cánh cửa đàm phán, nhằm giữ vững môi trường ổn định để xây dựng lại quốc gia.
Tầm nhìn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là tầm nhìn của sự tự lực, tự cường. Ông đã chỉ cho chúng ta thấy rằng: Một dân tộc chỉ có thể giữ vững độc lập khi biết kết hợp sức mạnh nội tại của nền kinh tế với sự linh hoạt, khôn khéo trên trường quốc tế.
Thưa Viện trưởng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã để lại dấu ấn đậm nét với phong cách ngoại giao đặc sắc. Ông nhận định như thế nào về “Sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và tính thực tiễn chiến lược” trong phong cách ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng?
Dưới góc độ khoa học chính trị và quan hệ quốc tế, tôi nhìn nhận phong cách của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không đơn thuần chỉ là sự “khéo léo” trong giao tiếp, mà đó là một hệ thống tư duy chiến lược về quyền lực mềm Việt Nam. Điểm đặc biệt của ông chính là khả năng “Văn hóa hóa các mục tiêu chính trị” để tạo ra sức thuyết phục quốc tế.
Tại Hội nghị Geneva năm 1954, trong tư cách Trưởng đoàn, ông không chỉ đàm phán để kết thúc một cuộc chiến, mà thực chất đang thực hiện một cuộc khai sinh về mặt pháp lý quốc tế cho một Nhà nước Việt Nam độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Ông đã biến bàn đàm phán tại một diễn đàn đa phương phức tạp thành nơi dùng ngôn ngữ của luật pháp và đạo đức để buộc các cường quốc phải công nhận thực thể chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một bước đi mang tính quản trị vị thế cực kỳ sắc sảo: Dùng sức mạnh của chính nghĩa để đối trọng với sức mạnh cường quyền.
Trong nhiều thập kỷ chỉ đạo đối ngoại, phong cách của ông là tìm kiếm “mẫu số chung” giữa lợi ích dân tộc và xu thế thời đại. Ông không tiếp cận đối phương bằng tâm thế đối đầu áp đặt, mà bằng cách khơi gợi những giá trị nhân văn và văn hóa tương đồng. Với ông, ngoại giao là nghệ thuật “chinh phục bằng sự chân thành”. Điều này giúp Việt Nam hóa giải được những xung đột ý thức hệ gay gắt để hình thành một “mặt trận nhân dân thế giới” ủng hộ Việt Nam - một nguồn lực quyền lực mềm vô tiền khoáng hậu trong lịch sử quan hệ quốc tế.
Sự “mềm dẻo” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng thực chất là một dạng phản xạ chiến lược dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc quy luật vận động của thế giới. Ông có khả năng dự báo các điểm đứt gãy trong quan hệ giữa các nước lớn để từ đó điều chỉnh “liều lượng” ngoại giao một cách tinh tế. Ông biết lúc nào cần kiên định để bảo vệ chủ quyền và lúc nào cần uyển chuyển để duy trì khoảng không gian hòa bình cho dân tộc. Đó là phong thái của một nhà chiến lược: Dùng sự tĩnh tại của văn hóa dân tộc để ứng phó với sự biến động không ngừng của địa chính trị.
Tóm lại, di sản ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một trường phái ngoại giao đậm chất nhân văn. Ông đã nâng tầm ngoại giao Việt Nam từ việc giải quyết các xung đột cụ thể lên thành nghệ thuật kiến tạo hòa bình, nơi sức mạnh của lẽ phải mới là tiếng nói sau cùng.
Thưa Viện trưởng, trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay có nhiều biến động phức tạp và khó lường, những giá trị cốt lõi trong di sản ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng để lại những bài học kinh nghiệm quý báu gì cho công tác đối ngoại hiện nay?
Trong bối cảnh hệ thống quốc tế hiện đại đang trải qua những chuyển dịch mang tính cấu trúc, các giá trị cốt lõi trong tư duy và thực tiễn đối ngoại của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn giữ nguyên tư cách là những nguyên lý nền tảng, định hình hành động đối ngoại của chúng ta.
Di sản quan trọng mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng để lại chính là sự thấu hiểu và vận dụng sáng tạo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, cái “bất biến” là lợi ích quốc gia - dân tộc, là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Giữa một môi trường địa chính trị đầy rẫy những biến số khó lường, tư tưởng của ông nhắc nhở chúng ta rằng: Sự linh hoạt về sách lược chỉ thực sự có giá trị khi nó bám sát trục xoay của các nguyên tắc chiến lược cốt lõi. Đây là bài học về bản lĩnh chính trị trong việc giữ vững quyền tự quyết dân tộc trước các sức ép bên ngoài.
Tinh thần phụng sự Tổ quốc gắn liền với lợi ích dân tộc trong tư duy của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gợi mở cho công tác đối ngoại hiện nay năng lực “Quản trị các mối quan hệ đa phương phức tạp”. Từ thực tiễn chỉ đạo của ông, chúng ta rút ra bài học về việc tìm kiếm các giá trị nhân văn chung để hóa giải các xung đột lợi ích và khác biệt về hệ tư tưởng. Đó là nghệ thuật chuyển hóa các thách thức thành không gian đối thoại, giúp quốc gia không rơi vào thế đối đầu mà vẫn bảo đảm được không gian phát triển.
Công tác đối ngoại hiện nay không chỉ là cuộc cạnh tranh về quyền lực cứng, mà còn là nỗ lực nâng cao uy tín và sức hấp dẫn của mô hình quốc gia. Tư duy đặt lợi ích dân tộc lên trên hết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tạo nên một hình ảnh Việt Nam tự trọng, chân thành và có trách nhiệm. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng lòng tin chiến lược với cộng đồng quốc tế, giúp chúng ta kiến tạo được một mạng lưới quan hệ bền vững, tạo thành phương thức bảo vệ an ninh và vị thế quốc gia từ sớm, từ xa.
Di sản đối ngoại của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một học thuyết hành động có tính xuyên suốt. Đối với chúng tôi, những người làm công tác nghiên cứu chính trị và quan hệ quốc tế, tư tưởng của ông là minh chứng cho việc sức mạnh của một dân tộc nằm ở sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và năng lực ứng biến linh hoạt đầy bản sắc văn hóa.
Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Đào Ngọc Báu!











