Thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành thủy sản: Động lực mới cho phát triển bền vững
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao, chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu đối với nhiều ngành kinh tế, trong đó có thủy sản.
Với vai trò là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý mà còn mở ra cơ hội để thủy sản Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật, gia tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững ngành thủy sản. Ảnh: Chu Khôi
Chuyển đổi số, yêu cầu cấp thiết của ngành thủy sản
Ngành thủy sản Việt Nam nhiều năm qua đã khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế quốc dân, đóng góp khoảng 4% GDP, tạo việc làm và sinh kế cho hàng triệu lao động, đồng thời duy trì vị thế là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản những năm gần đây luôn duy trì ở mức cao, trong 2 tháng đầu năm 2026 đạt 1,7 tỷ USD, tăng 20,2%, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia cung cấp thủy sản lớn trên thế giới.
Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cũng đang đứng trước nhiều thách thức mới. Biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, tác động trực tiếp đến môi trường nuôi trồng và nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Tình trạng dịch bệnh trong nuôi trồng có xu hướng gia tăng, chi phí sản xuất ngày càng lớn, trong khi thị trường xuất khẩu liên tục siết chặt các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, trong bối cảnh đó, chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững ngành thủy sản. Việc ứng dụng công nghệ số cho phép thu thập, phân tích và khai thác dữ liệu một cách hiệu quả, hỗ trợ cơ quan quản lý và người sản xuất đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời. Đồng thời, công nghệ số cũng giúp minh bạch hóa chuỗi giá trị sản xuất, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng. Các chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chiến lược phát triển kinh tế số cùng với các chương trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp đã tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản.
Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng chiến lược chuyển đổi số ngành đến năm 2030, tầm nhìn 2035, đồng thời ban hành khung kiến trúc số ngành nhằm bảo đảm sự đồng bộ với kiến trúc Chính phủ số quốc gia. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hình thành hệ sinh thái dữ liệu và nền tảng số phục vụ công tác quản lý, sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong toàn chuỗi giá trị
Những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ số trong ngành thủy sản đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước hình thành các mô hình sản xuất và quản lý dựa trên nền tảng dữ liệu. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, nhiều địa phương đã triển khai các mô hình ứng dụng công nghệ cao.


Mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao cho hiệu quả kinh tế tại Ngọc Hồi. Ảnh: PV
Theo Giám đốc Hợp tác xã thủy sản công nghệ cao Đại Áng (xã Ngọc Hồi) Nguyễn Văn Thiêm, với diện tích 15ha, đơn vị xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản "sông trong ao" với 15 bể nuôi. Ở trong các bể nuôi sẽ lắp đặt các thiết bị như máy sục khí, máy hút chất thải, hệ thống quan trắc môi trường tự động được lắp đặt tại các ao nuôi cho phép theo dõi liên tục các chỉ số như nhiệt độ, độ mặn, pH và oxy hòa tan.
Thông qua các ứng dụng số, người nuôi có thể theo dõi tình trạng môi trường nuôi theo thời gian thực, từ đó điều chỉnh quy trình sản xuất kịp thời, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao năng suất. Do đó, nuôi cá ứng dụng công nghệ cao cho sản lượng gần 400 tấn cá/năm, cao gấp gần 2 lần so với nuôi cá theo kiểu truyền thống.
Bên cạnh đó, hệ thống bản đồ số quản lý vùng nuôi đang được triển khai tại nhiều địa phương. Dữ liệu về vị trí, diện tích, tình trạng sản xuất và sản lượng dự kiến của các vùng nuôi được cập nhật thường xuyên, giúp cơ quan quản lý và người dân dễ dàng tra cứu thông tin. Việc số hóa dữ liệu vùng nuôi không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần tăng cường tính minh bạch trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia đã tạo bước tiến quan trọng trong quản lý đội tàu và hoạt động khai thác trên biển. Hệ thống giám sát hành trình tàu cá được triển khai rộng rãi, giúp cơ quan chức năng theo dõi hoạt động của tàu cá theo thời gian thực, góp phần ngăn chặn các hành vi khai thác trái phép và đáp ứng yêu cầu chống khai thác IUU. Việc triển khai nhật ký khai thác điện tử và cấp giấy xác nhận nguồn gốc thủy sản bằng phương thức điện tử tại các cảng cá đang từng bước được mở rộng. Những ứng dụng này giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng, giảm bớt thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lợi thủy sản.

Không chỉ ở khâu sản xuất, trong khâu chế biến, nhiều doanh nghiệp thủy sản đã chủ động ứng dụng công nghệ số trong quản trị và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ảnh: Trọng Nghĩa
Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, không chỉ ở khâu sản xuất, trong khâu chế biến, nhiều doanh nghiệp thủy sản đã chủ động ứng dụng công nghệ số trong quản trị và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Hệ thống mã QR được sử dụng để cung cấp thông tin về quá trình nuôi trồng, chế biến và vận chuyển, giúp người tiêu dùng và đối tác nhập khẩu dễ dàng kiểm tra nguồn gốc sản phẩm.
Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội lớn để ngành thủy sản Việt Nam nâng cao năng lực quản lý, tăng hiệu quả sản xuất và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để quá trình này đạt hiệu quả bền vững, các chuyên gia cho rằng, các bộ, ngành cần tham mưu Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, nâng cao chất lượng dữ liệu và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực. Khi công nghệ số được ứng dụng rộng rãi và đồng bộ, ngành thủy sản sẽ có thêm động lực mới để phát triển hiện đại, minh bạch, bền vững, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội.











