Thúc đẩy hệ sinh thái chuyển đổi xanh ngành xây dựng
Ngành xây dựng đang trải qua quá trình tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái theo hướng xanh và bền vững. Từ vật liệu, công nghệ, quy hoạch đến quản lý chất thải và chuyển đổi số, mỗi mắt xích đều đang thay đổi, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050.

Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam đòi hỏi đẩy nhanh tốc độ xanh hóa trong ngành xây dựng.
Quá trình chuyển đổi xanh trong ngành xây dựng thời gian qua đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu của Bộ Xây dựng, đến cuối tháng 5/2026, cả nước có gần 372.000 phương tiện giao thông đường bộ chạy điện được đưa vào lưu hành, trong đó gần 370.000 ô-tô điện và hơn 1.500 xe buýt điện. Hạ tầng phục vụ phương tiện sử dụng năng lượng sạch cũng đang từng bước được đầu tư và hoàn thiện.
Trong lĩnh vực công trình xanh, Việt Nam hiện có hơn 828 công trình được chứng nhận xanh với tổng diện tích sàn khoảng 20,8 triệu m2, vượt mục tiêu đề ra và đứng thứ 8 trong số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ về số lượng công trình được chứng nhận xanh. Bên cạnh đó, vật liệu xây không nung tiếp tục được mở rộng sản xuất và ứng dụng, góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải khí nhà kính.

Tòa nhà trụ sở Tập đoàn Viettel đạt chứng chỉ LEED của Hội đồng Công trình xanh Hoa Kỳ. (Nguồn: Bộ Xây dựng)
Tại Diễn đàn Phát triển bền vững ngành xây dựng Việt Nam (VSCF) 2026, Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết, ngành xây dựng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, song cũng là lĩnh vực tiêu thụ khối lượng lớn tài nguyên, năng lượng và phát sinh lượng phát thải đáng kể trong toàn bộ vòng đời công trình. Theo Thứ trưởng, chuyển đổi xanh vì vậy không chỉ dừng lại ở mục tiêu giảm phát thải mà là quá trình chuyển đổi toàn diện, từ quy hoạch, thiết kế, lựa chọn vật liệu, thi công, quản lý chất thải đến vận hành và tái sử dụng tài nguyên.
Đến nay, quá trình chuyển đổi xanh của ngành đã đạt nhiều kết quả tích cực. Việt Nam có hơn 828 công trình được chứng nhận xanh với tổng diện tích sàn khoảng 20,8 triệu m², vượt mục tiêu đề ra và đứng thứ 8 trong số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ về số lượng công trình xanh. Việc phát triển vật liệu xây không nung, mở rộng hạ tầng phục vụ phương tiện sử dụng năng lượng sạch cũng đang góp phần giảm tiêu hao tài nguyên và phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh, những kết quả bước đầu mới chỉ là nền tảng. Chi phí đầu tư công nghệ xanh còn cao, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật vẫn cần tiếp tục hoàn thiện, trong khi khả năng tiếp cận tín dụng xanh và các công cụ tài chính vẫn là rào cản đối với nhiều doanh nghiệp.
Chuyển đổi xanh cần một hệ sinh thái đồng bộ
Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) cho rằng phát triển bền vững đã trở thành điều kiện của năng lực cạnh tranh. Theo ông, các thị trường xuất khẩu, nhà đầu tư và tổ chức tài chính hiện không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn đánh giá dấu chân carbon, hiệu quả sử dụng năng lượng, nguồn gốc nguyên liệu và tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, Net Zero không còn đơn thuần là cam kết môi trường mà đã trở thành chiến lược phát triển kinh tế, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng phải tích hợp các tiêu chí ESG vào toàn bộ quá trình hoạt động, từ đầu tư, thiết kế, lựa chọn vật liệu, quản trị chuỗi cung ứng cho tới vận hành công trình.

Diễn đàn Phát triển bền vững ngành xây dựng Việt Nam (VSCF) 2026. (Ảnh: Đỗ Bảo)
Một trong những trụ cột quan trọng của hệ sinh thái chuyển đổi xanh là phát triển vật liệu xây dựng xanh và kinh tế tuần hoàn. Theo ông Phan Hữu Duy Quốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Xây dựng số 1 (CC1), ngành xây dựng hiện đóng góp khoảng 40% tổng lượng phát thải carbon toàn cầu. Vì vậy, giảm carbon hàm chứa trong vật liệu và carbon phát sinh trong quá trình vận hành công trình sẽ là hai nhiệm vụ song hành của ngành trong giai đoạn tới. Bên cạnh đó, chất thải rắn xây dựng đang được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên thay vì gánh nặng môi trường.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng Hà Nội, bài toán không chỉ nằm ở công nghệ nghiền tái chế mà cần quy hoạch toàn bộ chuỗi quản lý chất thải xây dựng, từ công trình phát sinh, điểm thu gom, trạm trung chuyển, nhà máy tái chế đến thị trường tiêu thụ vật liệu tái chế. Chỉ khi hình thành được chuỗi khép kín này, kinh tế tuần hoàn trong xây dựng mới có thể vận hành hiệu quả. Các chuyên gia cũng đề xuất phát triển mạng lưới quản lý chất thải xây dựng theo hướng số hóa, ứng dụng dữ liệu để theo dõi toàn bộ dòng vật liệu, giúp giảm chi phí logistics, hạn chế đổ thải trái phép và nâng cao giá trị vật liệu tái chế.

Nếu muốn thúc đẩy công trình xanh, cần xây dựng và áp dụng một bộ công cụ đánh giá phù hợp do Bộ Xây dựng chủ trì. (Ảnh: HNV)
Ở lĩnh vực xi-măng, chuyển đổi xanh cũng đang diễn ra mạnh mẽ thông qua việc thay thế nguyên, nhiên liệu hóa thạch. Theo ông Nguyễn Công Bảo, Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Xi-măng Fico-YTL, ngành xi-măng hiện chiếm khoảng 8% lượng phát thải CO₂ toàn cầu, trong khi gần một nửa lượng phát thải đến từ quá trình nung clinker. Việc sử dụng tro bay, xỉ thép, sinh khối, nhiên liệu từ rác thải hay lốp xe đã qua sử dụng không chỉ giúp giảm phát thải mà còn giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thị trường carbon đang hình thành.
Chuyển đổi số là nền tảng của chuyển đổi xanh
Bên cạnh vật liệu và công nghệ, chuyển đổi số đang trở thành nền tảng để xây dựng hệ sinh thái xanh của ngành xây dựng. Theo ông Phan Hữu Duy Quốc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh (SACA), năng suất lao động của ngành xây dựng toàn cầu nhiều năm qua chỉ tăng rất chậm. Chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa quy trình mà là thay đổi toàn diện phương thức quản lý, thiết kế, thi công và vận hành nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việc ứng dụng các nền tảng số trong kiểm kê phát thải, truy xuất nguồn gốc vật liệu, quản lý vòng đời công trình hay quản lý chất thải xây dựng sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế, đồng thời tạo điều kiện tiếp cận tín dụng xanh và các cơ chế tài chính carbon trong tương lai.

Cả nước đã ghi nhận hơn 600 công trình xanh với tổng diện tích gần 17 triệu m², cùng hơn 183.000 ô-tô điện và gần 1.000 xe buýt điện đang lưu hành.
Có thể thấy, mục tiêu Net Zero sẽ khó đạt được nếu chỉ dựa vào nỗ lực của từng doanh nghiệp. Điều ngành xây dựng cần là một hệ sinh thái chuyển đổi xanh được vận hành đồng bộ, trong đó chính sách tạo động lực, doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giới khoa học cung cấp giải pháp, tổ chức tài chính mở rộng nguồn vốn xanh và thị trường tạo sức ép cũng như phần thưởng cho các sản phẩm phát triển bền vững. Khi các mắt xích này được kết nối thành chuỗi giá trị thống nhất, chuyển đổi xanh sẽ không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn mở ra dư địa tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo.











