Thuế xuất nhập khẩu cần theo kịp những mô hình kinh tế mới
Quy mô xuất nhập khẩu tăng nhanh, thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển, các không gian kinh tế mới đang làm thay đổi cách hàng hóa vận động. Thực tế này đòi hỏi chính sách thuế xuất nhập khẩu phải được thiết kế dựa trên dữ liệu cập nhật, bản chất giao dịch và khả năng quản lý, thay vì chỉ xử lý từng vướng mắc phát sinh.

Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu. (Ảnh: CHQ)
Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn mới
Nền tảng pháp lý hiện hành về chính sách thuế xuất nhập khẩu là Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, được Chính phủ ban hành ngày 1/9/2016. Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trong đó có chính sách miễn, giảm, hoàn và không thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Trong gần 10 năm thực hiện, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP và Nghị định số 182/2025/NĐ-CP để đáp ứng yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn.
Theo báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính, hệ thống quy định này cơ bản đã đi vào cuộc sống. Chính sách thuế xuất nhập khẩu được thực hiện theo hướng công khai, minh bạch; thủ tục hành chính từng bước được đơn giản hóa, góp phần rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Chính sách miễn thuế đúng đối tượng cũng góp phần khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp mũi nhọn và địa bàn kinh tế khó khăn. Nghị định còn tạo cơ sở thực hiện các cam kết quốc tế, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, phòng, chống gian lận thương mại và bảo đảm nguồn thu ngân sách.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế được đẩy mạnh. Các thủ tục về miễn, giảm, hoàn và không thu thuế được thực hiện trên môi trường điện tử. Những quy định mới cũng được cập nhật vào hệ thống nghiệp vụ để áp dụng thống nhất trong toàn ngành hải quan.
Tuy nhiên, bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu đã thay đổi đáng kể so với thời điểm Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được ban hành. Quy mô thương mại tăng nhanh, phương thức giao dịch đa dạng hơn và nhiều mô hình kinh tế mới xuất hiện.
Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, đến hết ngày 15/9/2026, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 825,19 tỷ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 400,84 tỷ USD, tăng 23,2%; nhập khẩu đạt 424,35 tỷ USD, tăng 36%. Cán cân thương mại nhập siêu 23,51 tỷ USD.
Quy mô xuất nhập khẩu tăng nhanh cho thấy sự mở rộng của hoạt động sản xuất, đầu tư và lưu chuyển hàng hóa. Đồng thời, sự gia tăng về số lượng giao dịch và các phương thức mua bán mới cũng tạo thêm áp lực đối với công tác quản lý thuế.
Một trong những thay đổi rõ nhất là sự phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới. Hàng hóa có thể được đặt mua trực tiếp trên nền tảng số và chuyển từ nước ngoài tới người tiêu dùng Việt Nam. Trị giá của từng lô hàng thường nhỏ nhưng số lượng giao dịch và tần suất vận chuyển lớn.
Phương thức này đặt ra yêu cầu mới đối với việc kiểm soát hàng hóa và xác định nghĩa vụ thuế. Chính sách cũng cần bảo đảm sự công bằng giữa thương mại điện tử xuyên biên giới với phương thức kinh doanh truyền thống.
Khoảng trống pháp lý còn xuất hiện cùng với việc nghiên cứu, thí điểm khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do và khu kinh tế đặc thù tại một số địa phương. Các mô hình này làm phát sinh quan hệ hàng hóa mới giữa khu vực được áp dụng cơ chế riêng với thị trường nội địa và quốc tế.
Trong khi đó, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP chưa có cơ chế thuế và quy định kiểm tra, giám sát hải quan tương ứng. Vì vậy, nghị định thay thế cần làm rõ chính sách thuế và phương thức quản lý đối với hàng hóa ra, vào những khu vực này.
Thực tế cũng đặt ra yêu cầu rà soát chính sách đối với gia công, sản xuất xuất khẩu và doanh nghiệp chế xuất. Một số đơn vị hải quan cho rằng chính sách thuế đối với ba loại hình này hiện chưa tương đồng, dù đều có hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để tạo thành sản phẩm xuất khẩu.
Sự khác biệt về chính sách làm tăng yêu cầu phân tích và quản lý đối với cơ quan hải quan. Do đó có đơn vị hải quan đã kiến nghị nghiên cứu theo hướng thống nhất hơn, trên cơ sở xem xét bản chất của hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu.
Điều này không đồng nghĩa mọi loại hình đều phải áp dụng cùng một cơ chế. Tuy nhiên, những hoạt động có tính chất tương đồng cần được rà soát trong một tổng thể, hạn chế những khác biệt chính sách chưa hợp lý.
Chính sách đối với khu phi thuế quan và hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ cũng cần tiếp tục được xem xét. Đây là những nhóm quy định đã có thay đổi tại các văn bản liên quan hoặc phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện. Nếu không được xử lý đồng bộ, khó khăn có thể tiếp tục đặt ra đối với doanh nghiệp và cơ quan hải quan.
Chính sách phải theo kịp dữ liệu thực tế
Một vấn đề quan trọng khác là việc xác định hàng hóa trong nước đã sản xuất được. Sau gần 10 năm, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên vật liệu đã có nhiều thay đổi.
Nhiều mặt hàng trước đây phải nhập khẩu nay đã được sản xuất trong nước. Tuy nhiên, việc rà soát và cập nhật danh mục hàng hóa trong nước đã sản xuất được có thời điểm chưa theo kịp thực tế.
Danh mục chậm cập nhật có thể dẫn đến việc tiếp tục miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa đã có nguồn cung trong nước. Ở chiều ngược lại, công nghệ, máy móc hoặc thiết bị mới mà Việt Nam chưa sản xuất được có thể chưa kịp tiếp cận chính sách phù hợp.
Độ trễ của dữ liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hai mục tiêu của chính sách thuế: bảo vệ hợp lý năng lực sản xuất trong nước và tạo điều kiện nhập khẩu công nghệ, thiết bị Việt Nam chưa sản xuất được.
Bộ Tài chính đề xuất tăng trách nhiệm của các bộ quản lý chuyên ngành trong việc cung cấp, rà soát và cập nhật thông tin. Danh mục hàng hóa trong nước đã sản xuất được cần được số hóa, công khai trên hệ thống thông tin quốc gia và cập nhật thường xuyên hơn.
Số hóa sẽ giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuận lợi hơn khi tra cứu, áp dụng chính sách. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, thời điểm cập nhật và trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin.
Yêu cầu về dữ liệu càng trở nên quan trọng khi chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục dịch chuyển. Các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, giảm phụ thuộc vào một thị trường và ưu tiên những quốc gia có môi trường đầu tư thuận lợi, thể chế minh bạch.
Đây là cơ hội để Việt Nam thu hút các dự án công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn. Tuy nhiên, chính sách thuế phải xác định rõ những hàng hóa cần tạo điều kiện nhập khẩu và những sản phẩm trong nước đã đủ khả năng cung ứng.
Yêu cầu xây dựng nghị định thay thế còn xuất phát từ sự thay đổi của hệ thống pháp luật. Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở các luật có hiệu lực tại thời điểm năm 2016. Đến nay, nhiều văn bản liên quan đã được sửa đổi hoặc ban hành mới.
Trong đó có Luật Quản lý thuế năm 2025, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15... Những thay đổi về đối tượng hưởng ưu đãi, chính sách đầu tư, khoa học-công nghệ và thẩm quyền hướng dẫn thủ tục khiến một số quy định hiện hành không còn tương thích.
Tại hội thảo lấy ý kiến đối với dự thảo này được Bộ Tài chính tổ chức mới đây, các đại biểu tập trung thảo luận tính cần thiết và mức độ hỗ trợ của từng chính sách; tính khả thi của điều kiện, hồ sơ và cơ chế kiểm tra, giám sát; tác động đối với sản xuất, xuất khẩu, thu ngân sách, môi trường đầu tư và chi phí tuân thủ; phương án chuyển tiếp để tránh khoảng trống pháp lý hoặc ách tắc khi thực hiện.
Thứ trưởng Tài chính Cao Anh Tuấn yêu cầu mỗi đề xuất chính sách phải có phương án xử lý và lập luận rõ ràng. Nội dung được tiếp thu phải thể hiện cụ thể trong dự thảo; trường hợp không tiếp thu cần giải trình đầy đủ cơ sở pháp lý, thực tiễn và tác động.
Nghị định thay thế cần kế thừa những quy định đã phát huy hiệu quả, đồng thời thích ứng với sự thay đổi của thương mại và sản xuất. Chính sách phải thống nhất với hệ thống pháp luật mới, dựa trên dữ liệu cập nhật và phù hợp với khả năng quản lý thực tế.
Đây là cơ sở để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực quản lý, bảo đảm nguồn thu và chủ động phòng, chống gian lận khi phương thức giao dịch, mô hình sản xuất và dòng hàng đang thay đổi nhanh chóng.
