Thương binh Trần Viết Sáng: Đôi chân mất, ý chí còn

Gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thương binh Trần Viết Sáng vẫn luôn nhắc về những năm tháng trận mạc với sự bình thản của một người lính đã đi qua sinh tử. Chiến tranh lấy đi đôi chân của ông, nhưng không thể lấy đi ý chí và niềm tin vào cuộc sống. 'Mất đi đôi chân, ta may mắn còn cái đầu' - câu nói ấy đã trở thành điểm tựa để ông vượt qua mọi mất mát.

Tại Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Nghệ An, thương binh Trần Viết Sáng, quê xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng vẫn giữ giọng nói rắn rỏi của người lính năm nào. Mỗi lần nhắc về chiến trường, ký ức lại hiện về rõ mồn một trong ông.

Cuối năm 1971, chàng trai Trần Viết Sáng lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế về Trung đoàn Công binh 14 (tiền thân của Lữ đoàn Công binh 414, Quân khu 4). Công việc của người lính công binh là mở đường, tham gia chiến đấu và bảo đảm giao thông vận tải, góp phần cơ động cho các đơn vị chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Thương binh Trần Viết Sáng kể về những kỷ niệm chiến trường.

Thương binh Trần Viết Sáng kể về những kỷ niệm chiến trường.

Ngày nối ngày sống giữa đại ngàn Trường Sơn, bộ đội ăn ở trong hang đá, uống nước suối, mở đường dưới mưa bom, bão đạn. Có những cánh rừng bị bom cày xới, cây cối cháy trụi, đi cả ngày không tìm thấy bóng mát. Ông kể, có những đợt làm nhiệm vụ trên biên giới, nắng nóng như thiêu đốt, khát đến cháy cổ mà không tìm được một con suối. Không còn cách nào khác, người lính trẻ phải uống chính nước tiểu của mình để cầm cự. Những ký ức ấy, với ông, còn nguyên như vừa mới hôm qua.

Năm 1972, đơn vị ông được giao nhiệm vụ bảo đảm vận tải cho chiến trường. Địa hình hiểm trở, nhiều nơi chỉ bộ đội đặc công mới có thể tiếp cận. Mỗi bước chân đều có thể là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Ông lặng người khi nhắc đến đồng đội: "Có những người sáng nay còn cùng nhau ca hát, sinh hoạt, chiến đấu, vậy mà tối đã không trở về nữa".

Năm 1975, đất nước thống nhất, tưởng như cuộc đời người lính sẽ bình yên nhưng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam nổ ra. Năm 1976, ông tiếp tục được điều động về Trung đoàn 250, thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5, sau này thuộc Sư đoàn 309 tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Rồi định mệnh ập đến. Năm 1979, trong một trận hành quân phục kích, ông bị trúng bom của địch. Tiếng nổ xé toạc núi rừng. Hai chân người lính gần như đứt lìa. Giữa chiến trường khốc liệt, đồng đội chỉ kịp dùng dây thừng buộc chặt phần chân để cầm máu rồi tìm cách đưa ông ra phía sau. Không có thuốc gây tê, việc cưa chân diễn ra ngay trong điều kiện dã chiến.

Ông được chuyển qua nhiều tuyến điều trị. Để giữ lấy mạng sống, các bác sĩ phải nhiều lần cắt bỏ phần chân bị hoại tử. Chân trái cưa ba lần. Chân phải hai lần. Mỗi lần phẫu thuật là một lần đau đến thắt ruột gan. Có thời điểm, người thương binh chỉ còn hơn 30kg. Nhưng điều khiến ông nhớ nhất lại không phải những cơn đau. Đó là tình đồng đội. Là những bác sĩ, y tá ngày đêm túc trực bên giường bệnh, đút từng thìa cháo, nói lời động viên nhẹ nhàng dành cho người lính mất cả đôi chân.

Ông tâm sự, sau khi bị thương, mất đi đôi chân, tính tình trở nên nóng nảy, cáu gắt. Thế nhưng chưa bao giờ ông thấy các y bác sĩ khó chịu. Họ vẫn kiên nhẫn chăm sóc, lặng lẽ sẻ chia, giúp ông từng bước vượt qua nỗi đau, mặc cảm và tuyệt vọng. "Tình người lúc ấy quý hơn bất cứ liều thuốc nào", ông xúc động nói.

Dù mất đi đôi chân, thương binh Trần Viết Sáng luôn tràn đầy nghị lực, ý chí và lạc quan.

Dù mất đi đôi chân, thương binh Trần Viết Sáng luôn tràn đầy nghị lực, ý chí và lạc quan.

Ngày trở về quê hương, trước mắt ông là một cuộc chiến khác. Không còn đôi chân, cũng không còn sức lao động như trước. Những ngày đầu, mặc cảm và nỗi đau nhiều lúc tưởng nhấn chìm người thương binh. Nhưng rồi mỗi lần nhớ đến những đồng đội đã nằm lại chiến trường, những người mãi mãi dừng lại ở tuổi đôi mươi, ông lại tự nhủ: "Mình còn may mắn hơn nhiều người. Mất đi đôi chân nhưng vẫn còn cái đầu."

Chính suy nghĩ giản dị ấy đã kéo ông đứng dậy. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, ông bắt đầu buôn bán nhỏ. Không còn sức khỏe để làm những việc nặng nhọc, ông bù lại bằng sự cần cù, chịu khó và đầu óc nhanh nhạy. Ngày qua ngày, việc buôn bán, làm ăn khấm khá hơn. Người thương binh năm nào không chỉ nuôi sống bản thân mà còn chăm lo cho cả gia đình đông con. Chín người con của ông đều được ăn học đến nơi đến chốn, trưởng thành, có công việc ổn định. Nhìn đàn con nên người, ông cười hiền. Nụ cười ấy không còn chất chứa những đau đớn của người từng năm lần lên bàn mổ, mà là sự điềm tĩnh của người lính đi qua sinh tử, sự thanh thản của một con người đã chiến thắng số phận.

Chiến tranh đã lùi xa, những vết thương trên cơ thể người lính năm nào cũng dần thành sẹo. Thế nhưng, nghị lực và niềm tin mà thương binh Trần Viết Sáng gìn giữ suốt gần nửa thế kỷ vẫn nguyên vẹn như ngày ông trở về từ chiến trường. Nhìn người thương binh tóc bạc, nụ cười hiền hậu bên chiếc xe lăn, ít ai nghĩ ông từng trải qua năm lần cưa chân để giành giật sự sống. Cuộc đời người thương binh chịu nhiều mất mát nhưng vẫn lựa chọn sống lạc quan, sống có ích và nuôi dưỡng hạnh phúc bằng chính ý chí của mình. Câu nói mộc mạc: "Mất đi đôi chân, ta may mắn còn cái đầu" vì thế không còn là lời tự động viên của riêng một người thương binh, mà trở thành thông điệp về bản lĩnh, niềm tin và khát vọng vươn lên của những người lính Bộ đội Cụ Hồ.

HOA LÊ

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/nuoi-duong-van-hoa-bo-doi-cu-ho/thuong-binh-tran-viet-sang-doi-chan-mat-y-chi-con-1050685