Thương mại hóa nghiên cứu: Rào cản lớn nhất của các nhà khoa học nữ

Là chủ nhân của nhiều công trình khoa học có giá trị ứng dụng cao, GS.TS. Đặng Diễm Hồng, Viện Sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đã chỉ ra những góc nhìn thẳng thắn từ thực tiễn thương mại hóa sản phẩm. Bà nhấn mạnh rằng khó khăn lớn nhất của các nhà khoa học nữ hiện nay không nằm ở việc tạo ra tri thức mới, mà ở khả năng biến tri thức ấy thành giá trị kinh tế và sản phẩm phục vụ đời sống.

 GS.TS Đặng Diễm Hồng, nguyên Trưởng phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

GS.TS Đặng Diễm Hồng, nguyên Trưởng phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Cơ hội và rào cản khi ra thị trường

Gắn bó hơn 4 thập niên với lĩnh vực công nghệ vi tảo, GS.TS. Đặng Diễm Hồng cho rằng các nhà khoa học nữ sở hữu những lợi thế rất riêng biệt trong nghiên cứu ứng dụng. Đó là sự kiên trì, tỉ mỉ khi theo đuổi các quy trình nuôi cấy phức tạp qua nhiều năm, cùng độ nhạy bén thiên bẩm đối với các sản phẩm phục vụ trực tiếp cho sức khỏe, dinh dưỡng và định hướng phát triển xanh. Chính sự nhạy bén này đã giúp nhóm nghiên cứu của bà thương mại hóa thành công các công nghệ mang tính thực tiễn cao như quy trình chiết tách phycocyanin từ sinh khối tươi vi tảo hay việc tận dụng lá bàng, lá ổi để kiểm soát vi sinh vật trong nuôi trồng tảo Spirulina platensis quy mô công nghiệp. Đây là những công nghệ đã được doanh nghiệp tiếp nhận và mang lại nguồn thu chuyển giao thực tế.

Tuy nhiên, đằng sau những thành công ít ỏi đó là một thực tế đầy thách thức về khoảng cách quá lớn giữa phòng thí nghiệm và thương trường. Theo nữ Giáo sư, một ngộ nhận phổ biến hiện nay là cho rằng nghiên cứu thành công đồng nghĩa với khả năng thương mại hóa. Trên thực tế, phần lớn kết quả khoa học mới chỉ được kiểm chứng ở quy mô nhỏ, trong điều kiện phòng thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ. Trong khi đó, doanh nghiệp lại cần các công nghệ có thể vận hành ổn định ở quy mô bán công nghiệp hoặc công nghiệp với chi phí hợp lý và khả năng sinh lợi rõ ràng. Một quy trình hoạt động hoàn hảo trong ống nghiệm, chai lọ hay hệ thống nuôi cấy quy mô nhỏ chưa chắc có thể duy trì hiệu quả khi mở rộng lên hàng trăm hoặc hàng nghìn mét vuông sản xuất.

Sự lệch pha giữa giá trị chuyên môn mà nhà khoa học theo đuổi và tính toán hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp chính là rào cản lớn nhất. Bên cạnh đó, các nhà khoa học nữ còn gặp rào cản riêng do tâm lý thận trọng, e dè trước rủi ro tài chính và thiếu hụt các mạng lưới kết nối kinh doanh. Nhóm nghiên cứu của bà cũng từng sở hữu nhiều bằng sáng chế được đầu tư rất nhiều công phu và tâm huyết nhưng dù đã được bảo hộ nhiều năm vẫn chưa tìm được đối tác tiếp nhận phù hợp.

Điển hình như quy trình sản xuất biodiesel từ chủng vi tảo biển Schizochytrium mangrovei PQ6 nộp đơn từ năm 2010 và được cấp bằng năm 2013 nhưng đến nay vẫn chưa bán được; quy trình chiết tách squalene từ sinh khối vi tảo được cấp bằng từ năm 2018 hay công nghệ nuôi trồng vi tảo Haematococcus pluvialis giàu astaxanthin được bảo hộ từ năm 2017 cũng rơi vào cảnh tương tự.

GS.TS Đặng Diễm Hồng (giữa, trước) và các đồng sự trong phòng Công nghệ tảo. Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

GS.TS Đặng Diễm Hồng (giữa, trước) và các đồng sự trong phòng Công nghệ tảo. Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Thực tế này xuất phát từ việc phần lớn doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm nhỏ và vừa, nguồn lực tài chính hạn chế nên rất khó đầu tư cho các công nghệ cần thời gian dài để hoàn thiện và thu hồi vốn. Theo kinh nghiệm thực tế của bà, chỉ khoảng từ 1% đến 5% doanh nghiệp có đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục đầu tư cho quá trình hoàn thiện công nghệ từ quy mô phòng thí nghiệm lên quy mô công nghiệp.

Bên cạnh đó, công tác sở hữu trí tuệ hiện nay vẫn đối mặt với nhiều bất cập khi thời gian thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ còn kéo dài, trong khi khâu định giá công nghệ vẫn là khoảng trống lớn. Do không có nhiều tổ chức hoặc chuyên gia đủ năng lực đánh giá chính xác giá trị công nghệ, nhà khoa học thường phải tự định giá kết quả nghiên cứu của mình, dẫn đến nguy cơ bị thiệt thòi hoặc không thể đạt được thỏa thuận hợp tác với doanh nghiệp.

Tích lũy "tri thức ẩn" và yêu cầu về một hệ sinh thái đồng hành

Từ thực tiễn nghiên cứu lâu năm, GS.TS. Đặng Diễm Hồng nhấn mạnh rằng bằng sáng chế hay giải pháp hữu ích thực chất chỉ là một phần bề nổi của công nghệ. Thứ tạo nên giá trị thực sự lại là "know-how", những kinh nghiệm, bí quyết kỹ thuật và tri thức tích lũy được trong suốt quá trình nghiên cứu mà không thể hiện đầy đủ trong hồ sơ đăng ký sở hữu trí tuệ. Bà gọi đó là "tri thức ẩn", một loại tài sản vô hình nhưng có ý nghĩa quyết định đối với khả năng triển khai công nghệ vào thực tế. Khi doanh nghiệp tìm đến, điều họ cần không chỉ là bản mô tả sáng chế trên giấy mà còn là người có khả năng giải quyết các vấn đề kỹ thuật phát sinh trong quá trình vận hành sản xuất.

Nhận thức rõ điều này, từ năm 2016, nhóm nghiên cứu của GS.TS. Đặng Diễm Hồng đã chủ động thay đổi cách tiếp cận đối với sở hữu trí tuệ. Thay vì chỉ tập trung chạy theo số lượng bằng sáng chế để lấy thành tích, nhóm chú trọng nhiều hơn đến việc tích lũy tri thức ẩn, hoàn thiện quy trình công nghệ và phát huy sự chu đáo, trách nhiệm của người phụ nữ để sẵn sàng xắn tay áo đồng hành cùng doanh nghiệp trong suốt quá trình sản xuất thực tế.

Theo kinh nghiệm thực tế của GS.TS. Đặng Diễm Hồng, chỉ khoảng từ 1% đến 5% doanh nghiệp có đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục đầu tư cho quá trình hoàn thiện công nghệ từ quy mô phòng thí nghiệm lên quy mô công nghiệp.

Theo kinh nghiệm thực tế của GS.TS. Đặng Diễm Hồng, chỉ khoảng từ 1% đến 5% doanh nghiệp có đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục đầu tư cho quá trình hoàn thiện công nghệ từ quy mô phòng thí nghiệm lên quy mô công nghiệp.

Khép lại những trăn trở của mình, nữ Giáo sư tha thiết nhấn mạnh rằng quá trình thương mại hóa khoa học công nghệ đòi hỏi sự bền bỉ không kém gì quá trình nghiên cứu trong phòng lab. Một công trình khoa học chỉ thực sự hoàn thành khi sản phẩm của nó bước ra khỏi phòng thí nghiệm, được doanh nghiệp tiếp nhận và tạo ra giá trị thiết thực cho xã hội.

Để các "đứa con tinh thần" của chị em không dừng lại ở những bài báo hay tấm bằng khen cất trong tủ, điều cấp thiết hiện nay là phải xây dựng được một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện dành riêng cho nữ trí thức. Hệ sinh thái đó cần đóng vai trò là cầu nối niềm tin, hỗ trợ tư vấn pháp lý, định giá công nghệ và kết nối các nguồn lực tài chính, giúp sự bền bỉ của người phụ nữ trong phòng lab được tiếp nối trọn vẹn bằng sự bền bỉ trên thương trường.

Kim Thanh

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/thuong-mai-hoa-nghien-cuu-rao-can-lon-nhat-cua-cac-nha-khoa-hoc-nu-23826080416274372.htm