Thương mại hóa tài sản trí tuệ từ kinh nghiệm của Đức và bài học cho Việt Nam
Những kinh nghiệm thực tế về thương mại hóa tài sản trí tuệ dưới kinh nghiệm của CHLB Đức được chuyển tải đến Việt Nam xem xét áp dụng.

Tọa đàm khoa học quốc tế “Thương mại hóa tài sản trí tuệ - Kinh nghiệm của Đức và Việt Nam” tại Trường ĐH Luật Huế ngày 8/10.
Ngày 8/10, Trường Đại học Luật, Đại học Huế (ĐH Luật Huế) phối hợp với Viện Friedrich-Ebert-Stiftung (FES) tại Việt Nam tổ chức Tọa đàm khoa học quốc tế với chủ đề “Thương mại hóa tài sản trí tuệ - Kinh nghiệm của Đức và Việt Nam”.
Sự kiện thu hút sự tham dự đông đảo của các chuyên gia pháp lý, nhà khoa học và giảng viên. Phát biểu chào mừng và khai mạc tọa đàm, PGS.TS Đoàn Đức Lương, Hiệu trưởng Trường ĐH Luật Huế và Ông Timo Rinke, Trưởng Đại diện Viện FES (CHLB Đức) tại Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng cấp thiết của việc hoàn thiện thể chế pháp lý, cởi bỏ các rào cản hành chính nhằm đưa các kết quả nghiên cứu và sáng chế từ trường đại học, viện nghiên cứu đi vào đời sống kinh tế - xã hội.
Khai thác thương mại sáng chế: Thực tiễn thành công tại CHLB Đức
Mở đầu chương trình, nhóm tác giả PGS.TS Đoàn Đức Lương, TS Đỗ Thị Diện và TS Vũ Thị Hương (Trường ĐH Luật Huế) trình bày báo cáo về thương mại hóa sáng chế tiếp cận từ khái niệm "Quyền sử dụng tự do" (Freedom to Operate - FTO). Báo cáo chỉ ra rằng, tại Việt Nam, pháp luật hiện hành vẫn thiên về bảo hộ độc quyền mà thiếu cơ chế khuyến khích khai thác linh hoạt.
Thực tiễn thống kê giai đoạn 2020–2024 cho thấy hoạt động chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu sáng chế chiếm ưu thế (với tỷ lệ hợp đồng được phê duyệt đạt gần 94% vào năm 2024), trong khi các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng lại duy trì ở mức rất thấp, thường dưới 10 hợp đồng/năm.

PGS.TS Đoàn Đức Lương, Hiệu trưởng Trường ĐH Luật Huế phát biểu khai mạc Tọa đàm khoa học.
Tình trạng này dẫn đến nguy cơ "đóng băng sáng chế", khiến công nghệ bị giữ chặt trong tay một chủ thể mà không được lan tỏa. Để khắc phục, nhóm nghiên cứu đề xuất mở rộng các ngoại lệ tại Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ, nội luật hóa nguyên tắc "Three-step test", thiết lập cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) và áp dụng các mô hình cấp phép mở chuẩn quốc tế (Open License, FRAND).
Chia sẻ kinh nghiệm từ quốc gia có nền kinh tế đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới, TS Tobias Oelsner, Thẩm phán Tòa án khu vực Berlin, CHLB Đức đã mang đến cái nhìn toàn diện về khung pháp lý tại Đức. Năm 2025, Đức ghi nhận 62.050 đơn đăng ký sáng chế tại Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Đức (DPMA); trong đó ngành chế tạo máy chiếm tỷ trọng lớn nhất (36,6%), kỹ thuật điện tăng trưởng 9,1% và lĩnh vực ô tô với các tập đoàn như Bosch, Mercedes-Benz, BMW chiếm khoảng 30% tổng số bằng sáng chế.
TS Tobias Oelsner nhấn mạnh vai trò then chốt của Luật Phát minh của người lao động (ArbnErfG) trong việc giải quyết hài hòa xung đột lợi ích giữa nhà khoa học và đơn vị sử dụng lao động qua 3 giai đoạn: nghĩa vụ báo cáo, nhận quyền và trả thù lao hợp lý (nhà khoa học nhận 10–15% giá trị phát minh thông thường, hoặc 30% doanh thu thu được tại các trường đại học).

TS Tobias Oelsner, Thẩm phán Tòa án khu vực Berlin, CHLB Đức chia sẻ nhiều vụ việc thực tế về khung pháp lý ở Đức.
Báo cáo của chuyên gia Đức cũng làm rõ các tiêu chuẩn định giá tài sản trí tuệ được công nhận như DIN 77100 và IDW S5, áp dụng phương pháp tỷ lệ giấy phép hoặc chiết khấu dòng tiền (DCF). Minh chứng cho hiệu quả khai thác thương mại là chương trình cấp phép công nghệ MP3 của Viện Fraunhofer, mang lại doanh thu tích lũy hơn 100 triệu Euro đóng góp vào quỹ nghiên cứu phát triển và vận hành thành công suốt 27 năm.
Thách thức chuyên ngành và quản trị tài sản vô hình kỷ nguyên AI
Phiên làm việc tiếp theo tập trung thảo luận các giải pháp thương mại hóa trong những lĩnh vực đặc thù và công nghệ mới. Trong tham luận về sáng chế dược phẩm, PGS.TS Đào Mộng Điệp và Nguyễn Đào Mai Khánh (Trường ĐH Luật Huế) đặt vấn đề cân bằng giữa quyền độc quyền của nhà đầu tư và quyền tiếp cận thuốc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

PGS.TS Đào Mộng Điệp, Trưởng Phòng KHCN & HTQT Trường ĐH Luật Huế (phải) đặt vấn đề cân bằng giữa quyền độc quyền của nhà đầu tư và quyền tiếp cận thuốc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Qua phân tích án lệ tại Đức, báo cáo đối chiếu vụ việc Raltegravir (Tòa án Liên bang Đức chấp nhận cấp giấy phép bắt buộc đối với thuốc điều trị HIV do đáp ứng nhu cầu y tế cấp thiết) và vụ Alirocumab (bác bỏ yêu cầu cấp phép bắt buộc do chưa chứng minh được tính không thể thay thế của sản phẩm). Từ kinh nghiệm này, nhóm tác giả kiến nghị Việt Nam cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể tiêu chí "lợi ích công cộng" và thí điểm cơ chế tự nguyện tuyên bố sẵn sàng cấp phép.
Ở góc độ khoa học xã hội, PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Trinh và ThS. Nguyễn Hữu Khánh Linh giới thiệu công cụ chẩn đoán pháp lý 3 khâu: Kiểm soát hợp pháp – Định hình thành dạng có thể sử dụng – Thiết kế giao dịch. Báo cáo khẳng định việc thương mại hóa nghiên cứu xã hội không nên rập khuôn theo mô hình bằng sáng chế của công nghệ cứng, mà cần tập trung đặc tả và sản phẩm hóa các bộ dữ liệu, nội dung đào tạo, phần mềm và khung tư vấn chuyên môn để chuyển giao hiệu quả cho thị trường.

Những đại biểu từ CHLB Đức và Viện FES tại buổi Tọa đàm.
Khép lại chuỗi tham luận, TS Hồ Minh Thành và Ths Nguyễn Văn Phúc đã mổ xẻ hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI). Một giải pháp AI là tập hợp phức tạp gồm mã nguồn, thuật toán, dữ liệu huấn luyện, mô hình và bí mật kinh doanh. Báo cáo phân tích sâu ngoại lệ khai thác văn bản và dữ liệu theo khoản 5 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2025 và Luật Quyền tác giả Đức (UrhG).
Nhóm tác giả trích dẫn các tranh chấp pháp lý quốc tế tiêu biểu như vụ Robert Kneschke v. LAION (xem xét tính hợp pháp của việc thu thập dữ liệu huấn luyện) và vụ GEMA v. OpenAI (xử lý hành vi tái hiện tác phẩm bảo hộ trong đầu ra của AI), qua đó khuyến nghị các viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần lập hồ sơ quản trị danh mục tài sản vô hình xuyên suốt vòng đời phát triển AI.

Ông Timo Rinke, Trưởng Đại diện Viện FES (CHLB Đức) tại Việt Nam phát biểu bế mạc buổi Tọa đàm khoa học.
Tọa đàm khép lại sau phiên thảo luận sôi nổi và phát biểu bế mạc của Ông Timo Rinke. Sự kiện đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học và hàm ý chính sách giá trị, góp phần thúc đẩy hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ và nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập.


