Thượng tướng Trần Văn Quang – Vị tướng tài năng, đức độ

Thượng tướng Trần Văn Quang sinh năm 1917 tại xã Nghi Hoa (nay là xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Tôi cùng quê với ông. Hai xã cách nhau chừng 5 cây số. Thuở nhỏ, tôi đã nghe mọi người ở quê truyền khẩu nhau câu nói: 'Thời thế tạo nên anh hùng. Nghi Lộc thời nay được như Bành, Cung, Quang...'.

Người dân Nghi Lộc quê tôi rất ngưỡng mộ và tự hào về Thượng tướng Trần Văn Quang. Thân phụ Thượng tướng Trần Văn Quang là cụ Trần Văn Năng (vẫn gọi là cụ Hàn Dung) - một nhà Nho nghèo yêu nước, có mấy người con trai tham gia cách mạng. Người con cả là Trần Văn Tăng tham gia sáng lập Đảng Tân Việt - một tổ chức cách mạng đầu thế kỷ XX. Người con thứ 3 là Trần Văn Cung là một trong 7 đảng viên của Chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập tại số nhà 5D, Hàm Long - Hà Nội. Hai anh em Trần Văn Quang, Trần Văn Bành tham gia cách mạng từ rất sớm, bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Buôn Ma Thuột trước năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Trần Văn Cung là Ủy viên Thường trực Quốc hội khóa 1. Sau này, cả ông Trần Văn Quang và ông Trần Văn Bành đều trở thành cán bộ cao cấp của Quân đội.

 Thượng tướng Trần Văn Quang và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần về thăm lại chiến trường xưa năm 2004. Ảnh tư liệu

Thượng tướng Trần Văn Quang và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần về thăm lại chiến trường xưa năm 2004. Ảnh tư liệu

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, tôi là chiến sĩ rồi qua chiến đấu trưởng thành lên cán bộ phân đội ở chiến trường Trị - Thiên - Huế. Khi ấy ông Trần Văn Quang là Bí thư Khu ủy, Bí thư Quân khu ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên. Ở Quân khu Trị Thiên ngày đó, mọi người đều kính trọng gọi ông với biệt danh Bảy Tiến. Được biết, đó là tên ông dùng từ năm 1961 khi vào chiến trường miền Nam. Dù không được trực tiếp gặp, nhưng hằng ngày cán bộ, chiến sĩ đơn vị chúng tôi luôn nhận được từ vị Tư lệnh kiêm Chính ủy sự lãnh đạo, chỉ huy kịp thời, sáng suốt, quyết đoán trong chiến đấu.

Đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968, trung đoàn chúng tôi đã cùng các đơn vị bạn tấn công giải phóng và kiên cường bám trụ thành phố Huế trong suốt 26 ngày đêm dưới sự phản kích điên cuồng quyết liệt của địch. Ngay từ thời bấy giờ tôi nhiều lần được nghe các thủ trưởng đơn vị nói rằng, ông Trần Văn Quang là một vị tướng văn võ song toàn, đã đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Quân đội nên có rất nhiều kinh nghiệm cầm quân, trận mạc... Ông từng là Chính ủy Quân khu 4 từ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi làm Phó tổng Tham mưu trưởng, ông được cử vào chiến trường miền Nam từ rất sớm, giữ chức Ủy viên Trung ương Cục, Trưởng ban Quân sự Miền…

Tôi được tiếp xúc làm việc với Thượng tướng Trần Văn Quang trong thời kỳ từ năm 1982 đến năm 1988. Là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngoài những trọng trách do Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao, Thượng tướng còn đảm nhiệm chỉ đạo công tác chính sách trong Quân đội. Hồi đó, Cục Chính sách trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Mới ngoài 30 tuổi, với cương vị là Phó phòng, rồi Trưởng phòng Nghiên cứu Tổng hợp Cục Chính sách, tôi thường được giao nhiệm vụ báo cáo công tác trực tiếp với Thượng tướng Trần Văn Quang hoặc lĩnh hội ý kiến chỉ đạo của ông đối với Cục Chính sách. Nhiều lần tôi được “cắp cặp” tháp tùng ông đi kiểm tra các đơn vị, địa phương hoặc đi dự các hội nghị chuyên đề ở các bộ ngành và Chính phủ. Vừa coi tôi là cấp dưới, vừa như là con cháu, ông thường chỉ bảo nhiều điều rất cụ thể trong công việc và cuộc sống…

Nhiều năm được tiếp xúc làm việc với Thượng tướng Trần Văn Quang, tôi cảm nhận ông là một vị tướng tài năng, đức độ, văn võ song toàn. Ông vừa là nhà chính trị, nhà quân sự giỏi, vừa là người chỉ đạo sáng suốt, sắc sảo về nhiều mặt ở tầm chiến lược - trong đó có công tác chính sách.

Mỗi lần đi cơ sở, ông rất chú ý tìm hiểu, nghiên cứu, nắm bắt, phát hiện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn để chỉ đạo giải quyết chính xác, chu đáo các chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội.

Trong cuộc sống đời thường, ông là người nhân hậu, trọng tình, luôn toát lên sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất của người cán bộ cách mạng với cốt cách truyền thống văn hóa. Trong quan hệ, ông là người khảng khái, bộc trực, chân thành. Khi cấp dưới làm việc chưa đúng, ông thẳng thắn phê bình, có lúc khá gay gắt. Nhưng mọi người đều nhận ra rằng, sự gay gắt đó là có lý và vì sự tiến bộ của mình và tập thể, bởi bên trong đó ẩn chứa một tình thương yêu sâu nặng. Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm về ông - đó là những bài học sâu sắc, những điều ông căn dặn chỉ bảo tôi trong công tác.

Cuối năm 1982, Cục trưởng Cục Chính sách giao tôi lên báo cáo ông dự thảo Báo cáo Công tác chính sách của Bộ Quốc phòng trình Chính phủ, do Cục chuẩn bị. Báo cáo dài 15 trang đánh máy, khổ A4.

Thoạt đầu, ông cầm bản báo cáo trên tay xem lướt rất nhanh một lượt, rồi nói:

- Cháu đọc đi.

Tôi mới đọc được 3 trang, thì ông đột ngột đứng dậy, nét mặt không bằng lòng. Ông nói:

- Viết thế là chưa được. Dài dòng văn tự. Thôi! Để lại tài liệu, về đi.

Tôi vừa về đến Cục, thì Cục trưởng Lê Tiến Phục đã sốt sắng hỏi:

- Cháu thông qua xong rồi à? Nhanh vậy.

Tôi buồn bã nói:

- Dạ, không phải thế ạ. Bác Quang nghe chưa xong, đã “đuổi” cháu về.

Hiểu được tâm trạng của tôi, Cục trưởng động viên:

- Không sao đâu. Cùng làm việc với nhau nhiều năm chú biết, Thủ trưởng Quang là người thẳng thắn bộc trực thế đấy. Cái gì không bằng lòng là “cụ” nói ngay, nhưng không hề để bụng đâu.

Khoảng một giờ sau, điện thoại ở Trực ban Cục đổ chuông. Trực ban nói với tôi, Thủ trưởng Quang gọi anh lên ngay. Tôi nghĩ, lần này thế nào cũng bị ông “quạt” một trận.

Nhưng khi tôi vừa bước vào phòng, ông đứng dậy vừa rót nước cho tôi vừa ân cần nói:

- Cháu uống đi. Bác đã đọc và sửa xong rồi. Phần sau viết tốt đấy. “Chữ, nghĩa” quan trọng lắm. Bản báo cáo như một bài văn ấy, phải có mở đầu, thân bài, kết luận. Đoạn đầu cháu phải viết gọn lại…

Thật khó diễn tả được hết niềm vui của tôi khi được nghe thủ trưởng nhận xét như thế. Nhận tài liệu từ tay ông, tôi xin phép ra về. Quãng đường từ nhà “Con Rồng” về Cục khoảng 500m, tôi đi thật nhanh về phòng, khép cửa lại rồi mở bản báo cáo ra xem cứ như cậu học trò đọc lại bài thi của mình với lời phê của thầy giáo vậy. Thật bất ngờ, bản báo cáo được ông sửa rất cẩn thận từ trang đầu đến trang cuối. Chữ viết của ông rất đẹp và sang. Ông không góp ý chung chung mà thể hiện cụ thể, chính kiến rõ ràng. Có những câu ông chỉ đổi một từ, thay một cụm chữ là rõ hẳn về ngữ nghĩa. Nhất là đoạn mở đầu, ông gợi ý ra ngoài lề cho chúng tôi chuẩn bị lại, thật là dễ hiểu, dễ viết. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần những câu ông sửa. Càng đọc, càng ngẫm nghĩ, càng kính phục. Ông không chỉ là người nêu ý tưởng, chỉ đạo nội dung mà còn là người thể hiện văn bản rất sắc sảo, chi tiết, cụ thể, văn phong trong sáng, mạch lạc. Sau này, cứ mỗi lần đặt bút viết là tôi nhớ những lời ông căn dặn, nhớ những câu, những chữ mà ông đã sửa.

Thượng tướng Trần Văn Quang lúc sinh thời cùng cháu nội.

Thượng tướng Trần Văn Quang lúc sinh thời cùng cháu nội.

Kỷ niệm nữa là cuối năm 1984, Tạp chí Cộng sản đặt bài ông viết về đề tài Công tác chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội.

Ông không giao cho Thư ký hoặc cơ quan chuẩn bị mà tự mình viết bằng bút mực trên 4 trang giấy khổ A4. Ông gọi tôi sang:

- Cháu mang về đọc và sửa giúp bác.

Cầm về cơ quan, tôi đọc mấy lần. Sau đó nghĩ đơn giản là thủ trưởng đã tin tưởng giao thì mình cứ làm, miễn là phải đúng. Thế là, cầm cái bút mực đỏ trong tay tôi đọc và sửa vào bản thảo.

Tôi mới sửa chưa đầy nửa trang, thì anh Nguyễn Hữu Quyền, Phó cục trưởng bước vào phòng hỏi:

- Cậu đang làm gì thế?

Tôi báo cáo lại. Anh Quyền tròn mắt, nói:

- Ấy chết! Không được đâu. Cậu không thấy bản thảo thủ trưởng viết chữ cẩn thận, chữ đẹp đến thế này mà cậu lại cả gan sửa trực tiếp vào đó sao. Phải chép lại sang tờ giấy khác để tham gia. Nhưng chú ý rằng, cái gì thật cần thiết thì mới được sửa đấy nhé.

Ngày đó việc sao chép thủ công, chưa có photocopy như bây giờ. Tôi phải tẩy đi những chỗ đã sửa và nhờ anh Hồ Ngọc Vận là người viết chữ đẹp nhất của Phòng chép lại, rồi mới tham gia. Xong, tôi kẹp cẩn thận cả hai bản, để bản thủ trưởng viết lên trên. Chiều hôm đó, tôi mang sang nộp cho ông.

Cầm bản thảo, ông hỏi:

- Ơ hay! Cháu không tham gia gì cả à?

Tôi báo cáo. Ông mới lật bản dưới lên xem. Rồi vỗ vào vai tôi, ông vừa cười vừa nói:

- Cháu cẩn thận quá, máy móc quá. Bác không coi bản thảo mình đã hoàn chỉnh, nên mới nhờ cháu xem và sửa giúp cả nội dung và văn phong. Sao cháu không sửa trực tiếp vào bản bác viết. Chép lại rồi mới sửa thế này là mất thời gian, hình thức và lãng phí.

Dừng lại độ nửa phút, ông đổi giọng, nói chậm chắc từng từ:

- Cháu nên nhớ là, với mọi việc, khi soạn văn bản, dù chỉ là một bài báo, cũng đều phải tranh thủ ý kiến của chuyên gia, dù họ là cấp dưới xa.

Thật là nhẹ nhàng, nhưng cũng thật sâu sắc và thấm thía. Sau này trên từng cương vị công tác của mình, tôi luôn nhớ câu nói của ông - đó là một sự dạy bảo chân tình.

Tôi được biết, ông có thói quen chú trọng ghi chép công việc hằng ngày. Chỗ nào quan trọng cần ghi nhớ, ông dùng bút đỏ đánh dấu lại và lưu giữ cẩn thận. Có lần tôi hỏi, ông vui vẻ nói: “Đây là là tư liệu, là cẩm nang rất quý đấy, cháu ạ”. Lúc đó tôi chưa hiểu. Nhưng sau này, khi được Trung ương giao đảm trách cương vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, ông đã chỉ đạo triển khai rất kịp thời và thành công hàng loạt các quy định như Điều lệ; Chức năng, nhiệm vụ; Quy chế hoạt động… của Hội. Tôi biết rằng, ông đã đúc kết kinh nghiệm tích lũy trong suốt chiều dài lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác trong Quân đội để vận dụng đúng đắn trong điều kiện mới.

Tháng 5-2008, Thượng tướng Trần Văn Quang viết trong sổ tay đôi câu đối: “Ngoài chín mươi tuổi thọ, trải qua ba cuộc chiến tranh, có Đảng chỉ đường, được dân che chở, vững chí bền gan, giữ đạo Hiếu Trung trọn vẹn / Trong cùng một khuôn viên, cả bốn đời hòa hợp, thấu tình cốt nhục, thuận nghĩa phu thê, đồng lòng chung sức, xây nền Hạnh Phúc lâu bền”, tôi thật sự cảm phục cụ về: Tấm lòng lạc quan đối với sự nghiệp và tình cảm đối với gia đình. Khi giới thiệu về đôi câu đối, cụ khiêm tốn viết: “Chưa đáng là văn chương”. Nhưng theo tôi, vế đối rất chuẩn theo niêm luật và có nội hàm phong phú - xứng là văn chương đích thực. Cùng với nội dung sâu sắc, chữ viết rất chân phương và đẹp - không lẫn với ai được - của cụ Trần Văn Quang khi đang bước vào tuổi 93. Cặp câu đối như một bản tổng kết tóm tắt cuộc đời (sự nghiệp và gia đình) ngót trăm năm phong phú, sôi động của cụ Trần Văn Quang.

Tháng 6-2009, khi ông điều trị ở Khoa A11, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, có lần tôi vào thăm. Hai bác cháu chuyện trò hơn một tiếng đồng hồ. Ngày đó ông còn rất tỉnh táo minh mẫn. Ông kể tôi nghe nhiều chuyện hoạt động cách mạng, chuyện quê hương, chuyện gia đình. Ông kể, vào tháng 3-1941, khi ông vượt ngục, bắt liên lạc được với Xứ ủy Trung Kỳ, ông Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ giao cho ông về Nghệ An củng cố, xây dựng lại Tỉnh ủy Nghệ An sau một thời gian dài bị khủng bố. Ông đã cùng ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) về hoạt động ở huyện Nghi Lộc. Có lần, hai ông phải ra ngủ ở ruộng khoai ở cánh đồng Choàng, gần làng Đại Xá quê tôi. Đang đêm bất chợt trời mưa rào, cả hai ông ngủ ở giữa rãnh khoai, ướt sũng hết. Và còn nhiều chuyện khác nữa…

Tôi nói với ông:

- Cả cuộc đời hoạt động phong phú, sôi động, trải qua nhiều chiến trường, nhiều địa phương, đảm nhiệm nhiều trọng trách, là người có nhiều công tích gắn với nhiều sự kiện lịch sử, bác nên viết lại một cuốn Hồi ký để lưu lại cho đời và cho con cháu.

Ông ưu tư chậm rãi nói:

- Thôi cháu ạ! Nhiều nội dung trong đời hoạt động của bác đã được thể hiện trên một số trang lịch sử của các địa phương, đơn vị, cơ quan nơi bác đã từng tham gia hoạt động. Bác không có ý định viết Hồi ký đâu.

Nghe ông nói, tôi thầm nghĩ, vẫn biết ông là người có nhiều điều kiện và khả năng để thể hiện một tập Hồi ký thật phong phú và có giá trị sâu sắc. Nhưng ông không muốn nói về mình.

Sau đó 5 năm, ngày 3-11-2013, Cụ từ trần, thọ 97 tuổi.

Ngót trăm tuổi, gần 80 năm tuổi Đảng, Thượng tướng Trần Văn Quang đã trọn đời hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng. Tấm Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương, phần thưởng cao quý khác mà Đảng, Nhà nước trao tặng ông. Đặc biệt, ông là người được bầu đi dự 8 kỳ Đại hội liên tiếp của Đảng (từ khóa II đến khóa IX) đã nói lên công trạng, uy tín và tài đức của ông.

Ông không còn nữa, song tấm gương mẫu mực của ông - một vị tướng, một lão thành cách mạng đức độ, tài năng “quân sự, chính trị song toàn”, có nhiều cống hiến - còn mãi trong sự kính trọng và niềm tiếc thương của chúng tôi - những người lính Bộ đội Cụ Hồ được ông góp phần giáo dục, rèn luyện.

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/thuong-tuong-tran-van-quang-vi-tuong-tai-nang-duc-do-1020408