Tích hợp lịch sử trong văn du ký Bắc Ninh nửa đầu thế kỷ XX
Trong dòng văn du ký viết về Bắc Ninh có tích hợp nhiều tri thức lịch sử theo lối chính sử hàn lâm và dã sử, bao quát theo thời gian biên niên, nhân vật, sự kiện trong quá khứ cũng như chính nguồn thông tin trên các trang du ký đương thời đã trở thành di sản tư liệu lịch sử giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Có thể thấy chi lưu du ký in đậm tính lịch sử này thường là thế mạnh của các học giả cao niên, vốn kiến thức phong phú, sâu rộng.
Về cơ bản, nhóm tác giả Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật, Trần Huy Bá, Nhật Nham (Trịnh Như Tấu), Trúc Khê (Ngô Văn Triện)… trong các chuyến du ngoạn thường đến thăm các di tích lịch sử. Nhân đó nhắc nhớ, ôn lại, lược thuật các tri thức lịch sử được khai thác chủ yếu từ sách "Đại Việt sử ký toàn thư" như về các nhân vật An Dương Vương, Sĩ Nhiếp, Hai Bà Trưng, Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông cho đến thời Lê - Mạc - Trịnh - Nguyễn.

Chợ Gò, căn cứ địa của Đề Thám, sau khi bị quân Pháp chiếm và đặt bốt gọi là Cassanova, lấy tên một trung sĩ Pháp chết trong cuộc chiến ở đây. Ảnh tư liệu.
Chẳng hạn, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trong bài "Lời cảm cựu về mấy ngày chơi Bắc Ninh" nhấn mạnh địa thế, sự thay đổi địa danh và nhận diện lịch sử từ các góc độ danh nhân, triều đại xa xưa và gần cận: “Tỉnh Bắc Ninh khi xưa là chỗ đại trấn, ông Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, ông Lý Thường Kiệt phá quân Tống ở đó. Đời thượng cổ gọi là Vũ Ninh 武寧, đời Trần gọi là Bắc Giang lộ 北江路. Đời Lê đổi là Kinh Bắc trấn 亰北鎮, Nguyễn triều đời Minh Mệnh ta đổi là Bắc Ninh, đặt chức tổng đốc đó. Tỉnh Bắc Ninh, tây bắc tiếp Sơn Tây, Thái Nguyên, đông bắc tiếp Lạng Sơn, Hải Dương, tây nam tiếp Hưng Yên, Hà Nội. Hình thế tỉnh Bắc Ninh tựa con chim lớn xòe cánh ra tắm gội ở cái bể cạn Bắc Kỳ; tỉnh thành Bắc Ninh tựa cái diều con chim, phủ Đa Phúc, phủ Thuận Thành tựa hai cái cánh con chim, phủ Lạng Giang tựa cái đầu và mỏ con chim, phủ Từ Sơn tựa cái bụng con chim; mỏ kề lên cửa Chi Lăng, cánh xòe lên núi Tam Đảo, diều thông xuống sông Lục Đầu, lưng tựa vào sông Nhị Hà; phần thủy phần lục, đều có hình thế mạnh mẽ xớn xở và quan trọng cả”; đồng thời kể về lịch sử cận kim với sự kiện giặc phỉ Ngô Côn từ Cao Bằng, Lạng Sơn, qua phủ Lạng Giang, xuống quấy nhiễu, vây thành Bắc Ninh, rồi nhờ có quan Tiễu phỉ Ông Ích Khiêm tài thao lược kéo quân đánh giải vây; cho đến khi quân Cờ Đen kéo sang với danh nghĩa chống Pháp nhưng chúng cướp phá tàn bạo mà chính tác giả từng chứng kiến, trải nghiệm thời cuộc nhiễu nhương: “Thân mẫu thấy thế, hai tay ẵm chặt lấy mình, tựa vào chỗ nương trầu, đứng nép ở bên đường mé xa xa. Quân đội ấy đi khỏi, mình đi lên vài bước, lại thấy một cái quân đội nữa đi lên, có áo chiến đỏ lòe, thì ra quân đội An Nam” (Nam Phong Tạp chí, 1925)…
Bên cạnh đó, nguồn tri thức dã sử, thuật phong thủy, dân gian truyền miệng, truyền thuyết theo cách thức “nhân cách hóa vũ trụ” và “vũ trụ hóa con người” được khai thác tối đa. Học giả Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật trong chuyên mục "Thăm tìm dấu cũ" với bài "Chùa Bút Tháp, lăng Kinh Dương Vương" kết hợp giữa chuyến du ngoạn với du khảo, khảo sát, khảo cứu, điền dã, sưu tầm tư liệu xoay quanh những tượng “Nghìn mắt nghìn tay”, nghề in tranh dân gian, lầu Cửu phẩm liên đài, rồi mở rộng liên tưởng, suy đoán theo lối sử dân gian: “Ở tiền đường có thờ tượng chúa Trịnh, không kịp hỏi chúa Trịnh gì, lại nhớ ở Quỳnh Lâm - Đông Triều cũng có thờ tượng chúa Trịnh. Thế mới biết bọn chúa Trịnh là hóm và biết lo xa, lúc sống các ông thờ ông Bụt đất nhà Lê để thụ oản chuối như cái mưu của Trạng Trình đã xong; nhưng các ông còn lo lúc chết sẽ thành ma đói, bèn tìm cách để ngửi ghẹ khói hương của ông Bụt nhà chùa, mong bọn ngu dân sẽ dâng cúng mãi mãi. Tâm thuật những nhà chính trị như thế, xảo diệu biết bao!”; hoặc nói về đền thờ: “Hỏi đến sự tích thì dân làng nói đại ước rằng: Làng chúng tôi thờ đức Kinh Dương Vương đã từ thượng cổ đến giờ. Chỉ biết nơi ngoài bờ sông gọi là lăng Ngài, ở đấy lịch triều vẫn có quốc tế và làng vẫn có sài phu được miễn lao dịch”, hoặc nhận diện về mối quan hệ giữa vương quyền và thần quyền, quốc lễ với địa phương tế tự: “Thần tích các làng có nhiều điều ngoa truyền, nhưng phàm chỗ nào đã ghi vào tự điển, có quốc tế từ lịch triều, tất là chỗ từ cổ có nhiều chứng cứ xác thực cả. Còn sắc kiến từ đời Minh mệnh là theo trong tự điển mà mỗi nơi lại tu sửa lăng miếu lại và lập bia đề tỏ lòng triều đình kính mến, chứ không phải là trước chưa có lăng miếu gì, mà đến bây giờ mới biết mà lập lên” (Nam Phong Tạp chí, 1934)...

Bài "Chùa Bút Tháp, lăng Kinh Dương Vương" của học giả Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật trong chuyên mục "Thăm tìm dấu cũ", đăng trên Nam Phong Tạp chí, 1934.
Lại có những tác giả trẻ như Thạch Lam yêu thích khai thác đề tài lịch sử, trong đó có chuyến du ngoạn với bài báo "Bóng người Yên Thế: Từ Hố Chuối đến Đồn Gò - Giang sơn Đề Thám" nghiêng về phong cách điều tra, khảo cứu tư liệu, thuật chuyện lịch sử hào hùng một thời chưa xa: “Vùng Yên Thế: một vùng hiểm trở, toàn đồi, toàn những rừng rậm tối tăm, những bụi cây gai góc, những ngàn lau sắc và những nội cỏ mênh mông mà mỗi khi gió đến, ngả nghiêng rập rờn như sóng chiều trên mặt bể ngoài khơi. Chỗ đó, trước đây đã là một chỗ chiến trường cho những cuộc đánh giết nhau ghê gớm, cho những trận chạm gươm giáp mặt, những cuộc lẩn lút trốn tránh nguy nan. Máu người đã vấy trên cây cỏ của cả một vùng. Bây giờ, người chiếm cứ giang sơn ấy không còn nữa”.
Rồi qua các đề mục “Hai mươi năm qua” (nhấn mạnh chuyện hôm qua và hôm nay): “Trong vùng yên tĩnh ấy, chỉ thấy từng quãng xa, những đồn binh lính đóng trong những cái lô cốt trơ trọi trên đỉnh đồi. Chung quanh, người dân lại yên lặng cúi mình trên những thửa ruộng màu, bình tĩnh thong dong làm công việc ngoài đồng”; “Ông Hoàng Văn Vi” (lược thuật chuyện đời người con trai Đề Thám đang sống ở giữa phố thị Bắc Giang): “Tôi cũng biết nhân tình thế thái bây giờ không đáng chấp làm gì, nhưng thật tôi cũng không ngờ người mình đối với tôi không bằng được người Tây”; “Bà Lý Chuột và ông Thống Luận” (Ông Vi đưa tác giả đi thăm mẹ nuôi là bà Lý Chuột và ông Thống Luận vốn là bạn chiến đấu của Đề Thám, nay là bố vợ ông Vi); “Vợ chồng ông Cai Cờ” (Những hồi tưởng hào hùng của bà Cai cờ về một thời): “Đánh nhau thì nhiều lắm, nhưng kể ra thì chỉ có trận Hố Chuối, Nắng Hom, Cao Thượng và ở Thuông là lớn nhất. Chúng tôi là đàn bà - trừ bà ba thì ở mặt trận, ở sau trận, tuy không được trông rõ, nhưng cứ nghe tiếng súng đạn thì đủ biết. Thật lúc bấy giờ mạng người không coi vào đâu hết”; rồi “Sang đồn Gò…” với những quan sát vừa chân thực xen niềm khâm phục, tự hào: “Chúng tôi sang đồn Gò để tìm xem trên những dãy đồi trùng điệp ấy còn có những dấu tích gì còn lại của một thời Đề Thám xưa. Đến đây, nội cỏ mênh mông và bụi rậm bắt đầu nhường chỗ cho những khu rừng rậm rạp, cây cối sầm uất, um tùm. Rừng dẻ và rừng lim, sắt chen lẫn nhau, những cây chò cao vút, thân cây thẳng và trắng kẻ nổi lên trên cái nền xanh đen của muôn vàn thứ lá rườm rà… Ở trong những bụi cây như thế, một người ẩn núp thì trăm người cũng khó mà sục tìm được. Mà nếu người ấy lại nấp trong bụi bắn ra những người ở ngoài, nếu người ấy lại là một tay thiện xạ, thì một khẩu súng, một cái nỏ, một trăm viên đạn hay một trăm cái tên tẩm thuốc độc, có thể chống cự mà không sợ thua với 50 người lính giỏi ở ngoài. Cái sức mạnh của Đề Thám là ở chỗ đó” (Ngày nay, 1935)...
Trên nhiều phương diện khác nhau, gắn với từng làng xã cụ thể, thế hệ con cháu hôm nay có thể dựa theo nguồn tin trên các trang du ký mà đoán định, truy tìm, xác minh được khá nhiều tên tuổi từng có quan hệ gắn bó với mỗi địa phương, gia tộc, dòng họ cụ thể. Họ không phải là danh nhân cao sang nhưng là những con người có tên tuổi, nguồn gốc thân thuộc, cụ thể, gần gũi với quê hương. Qua các trang du ký có thể tìm hiểu, nhận biết được dấu ấn Ông Ích Khiêm (quê Đà Nẵng) trên đất Bắc Ninh (1868-1870); có cụ phán Minh ở làng Tam Á là người hào sảng, thông thuộc đường đi lối lại, chuyện xưa tích cũ; có sự kiện Tổng đốc Lê Văn Đính gặp Hoàng đế Bảo Đại và viên Công sứ người Pháp rồi được nhận Tứ đẳng Long bội tinh; tìm hiểu con cháu cụ Hoàng Văn Vi (con trai của Đề Thám) và hậu duệ với những bà Lý Chuột, ông Thống Luận, Cai Cờ Giáp Văn Phúc; hoặc về tác giả nổi danh Nhật Nham Trịnh Như Tấu (1915-1947), quê làng Thương, tổng Thọ Xương, tỉnh Lạng Thương (sau sáp nhập 2025 thuộc phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh)...
Trên tổng thể, ở đây có một lịch sử Bắc Ninh cổ và kim, xa và gần, trong đó những nhân vật, sự kiện và chính các tác giả hiện diện trong dòng văn du ký viết về Bắc Ninh giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX cũng đã trở thành ký ức lịch sử. Có thể nói nguồn tư liệu lịch sử sống động này góp phần quan trọng trong việc phổ cập tri thức, sự hiểu biết về từng làng quê, xây dựng các bộ địa chí và phục vụ bộ môn giáo dục, giảng dạy địa phương học, Bắc Ninh học.











