Tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị tại các viện nghiên cứu trong Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Trong tiến trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại thì vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và nhiều lĩnh vực khoa học mũi nhọn đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tác chiến, tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật và nghệ thuật quân sự. Yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại vì thế đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với hoạt động nghiên cứu, dự báo, sáng tạo, làm chủ và ứng dụng khoa học, công nghệ quân sự.

Trong quá trình đó, các viện nghiên cứu trong Quân đội là lực lượng trực tiếp tham gia nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao nhiều sản phẩm khoa học, công nghệ phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Quân đội và củng cố nền quốc phòng. Khác với nhiều loại hình đơn vị khác, hoạt động chủ yếu của các viện nghiên cứu dựa trên tri thức, năng lực tư duy độc lập, trình độ chuyên môn sâu và khả năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, chuyên gia. Một nhiệm vụ nghiên cứu có thể kéo dài nhiều năm; một công trình có thể trải qua nhiều lần thử nghiệm, điều chỉnh, thậm chí thất bại trước khi đạt kết quả; một sản phẩm công nghệ muốn đưa vào thực tiễn phải qua nhiều công đoạn kiểm chứng, hoàn thiện và chuyển giao. Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực, môi trường nghiên cứu, động lực sáng tạo đặc biệt là bản lĩnh chính trị của đội ngũ khoa học có tác động trực tiếp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Trong môi trường đặc thù đó, hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) phải thực sự hướng vào con người, tổ chức và nhiệm vụ nghiên cứu; góp phần định hướng chính trị, xây dựng động cơ, trách nhiệm, ý chí, niềm say mê khoa học; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; chăm lo, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học; tạo dựng môi trường dân chủ, kỷ cương, đoàn kết để phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của mỗi cán bộ, nhà khoa học. Mục tiêu cuối cùng là đưa kết quả nghiên cứu trở thành sản phẩm có giá trị, phục vụ thiết thực nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Quang cảnh Lễ phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng hằng năm và giai đoạn 2026-2030 tại Viện Thiết kế tàu quân sự (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).

Quang cảnh Lễ phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng hằng năm và giai đoạn 2026-2030 tại Viện Thiết kế tàu quân sự (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).

Đặc điểm và những vấn đề đặt ra trong tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT tại các viện nghiên cứu

CTĐ, CTCT trong các viện nghiên cứu là một bộ phận trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trực tiếp góp phần giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với các cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học quân sự. Do đó, dù hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ với những yêu cầu chuyên môn rất cao, các viện nghiên cứu vẫn phải đặt nhiệm vụ nghiên cứu trong tổng thể nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng của Quân đội, tuân thủ quy định cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Đội ngũ cán bộ, nhân viên, nhà khoa học tại các viện nghiên cứu phần lớn có trình độ chuyên môn cao, làm việc trong môi trường đòi hỏi tư duy độc lập, sáng tạo và chuyên sâu. Vì vậy, hiệu quả CTĐ, CTCT phải tạo được sự thống nhất về nhận thức, sự vững vàng về bản lĩnh chính trị, động lực cống hiến, tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, danh dự và sự liêm chính của từng cán bộ, nhà khoa học.

Ở các viện nghiên cứu, nhiệm vụ chính trị trung tâm phải được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thiết kế, chế thử, thử nghiệm và ứng dụng kết quả nghiên cứu. CTĐ, CTCT phải góp phần làm cho mỗi cán bộ nhận thức sâu sắc rằng nghiên cứu khoa học quân sự không đơn thuần là nghề nghiệp, mà còn là nhiệm vụ chính trị, trách nhiệm đối với Tổ quốc và Quân đội. Mỗi đề tài, sáng kiến, sản phẩm khoa học, dù ở quy mô nào đều cần được đặt trong mối quan hệ với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm kỹ thuật, bảo vệ chủ quyền và nâng cao tiềm lực quốc phòng.

Môi trường nghiên cứu khoa học đòi hỏi luôn phải tìm tòi cái mới, rất cần sự tranh luận, phản biện và thử nghiệm những cách tiếp cận mới. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu trong Quân đội còn gắn với yêu cầu bảo vệ bí mật quân sự, an toàn thông tin, quản lý dữ liệu và chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Vì vậy, tự do tư duy khoa học không đồng nghĩa với tùy tiện; phát huy dân chủ không tách rời kỷ luật; khuyến khích sáng tạo không thể tách khỏi mục tiêu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Từ những đặc điểm trên có thể thấy, hiệu quả CTĐ, CTCT tại các viện nghiên cứu phải được xem xét trên nhiều phương diện: Năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng; chất lượng công tác tư tưởng; chất lượng và cơ cấu đội ngũ; môi trường nghiên cứu; động lực sáng tạo; ý thức chấp hành kỷ luật, bảo mật; khả năng kết nối giữa nghiên cứu và thực tiễn, khả năng thích ứng trong hợp tác quốc tế.

Hoạt động CTĐ, CTCT được đặt trong mối quan hệ với nhiệm vụ chính trị trung tâm, với xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và xây dựng môi trường nghiên cứu. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy vai trò của tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Tuy nhiên ở một số nơi, nhận thức về mối quan hệ giữa CTĐ, CTCT với nhiệm vụ khoa học chưa thật đầy đủ. Biểu hiện cần khắc phục là tư duy tách rời hoạt động CTĐ, CTCT với các nhiệm vụ chuyên môn, thậm chí coi đó là trở ngại trong triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế; coi CTĐ, CTCT thuộc trách nhiệm chủ yếu của cơ quan chính trị, còn nghiên cứu khoa học thuộc cơ quan chuyên môn. Do đó, cấp ủy phải lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu, người chỉ huy tổ chức thực hiện, cơ quan chính trị tham mưu, hướng dẫn và các tổ chức, lực lượng cùng tham gia. Nếu các mặt công tác này bị tách rời, CTĐ, CTCT khó tác động trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ.

Nội dung và phương pháp công tác tư tưởng có lúc chưa thật phù hợp với đặc điểm đội ngũ trí thức, nhà khoa học. Đối với đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, giáo dục, thuyết phục cần dựa nhiều hơn vào lý lẽ, thực tiễn và hiệu quả công việc; trong khi cách truyền đạt một chiều, nặng về khẩu hiệu hoặc áp đặt khó tạo sức thuyết phục cao. Phải tăng đối thoại, trao đổi và tranh luận khoa học, hạn chế phương thức truyền đạt một chiều.

Việc nắm tình hình tư tưởng của cán bộ chưa thực sự đi sâu vào đời sống nghiên cứu. Trong khi đó, những yếu tố như áp lực tiến độ, điều kiện nghiên cứu, khả năng sử dụng kết quả, cơ hội phát triển nghề nghiệp, chế độ đãi ngộ và mức độ ghi nhận thành tích khoa học đều có thể tác động trực tiếp đến tư tưởng, động lực của cán bộ. Nếu không nắm chắc những vấn đề này, CTĐ, CTCT khó giải quyết đúng nhu cầu và nguyên nhân.

Việc xây dựng môi trường nghiên cứu dân chủ và văn hóa phản biện đặt ra yêu cầu cao. Nghiên cứu khoa học cần phản biện, nhưng phản biện phải hướng vào vấn đề, không quy chụp con người; sự khác biệt về phong cách, phương pháp, suy nghĩ, cách tiếp cận phải được tôn trọng trong khuôn khổ mục tiêu chung. Cùng với đó là yêu cầu bảo đảm bí mật quân sự, an toàn thông tin và trách nhiệm khi sử dụng dữ liệu, công nghệ mới, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

Nếu đánh giá cán bộ chủ yếu dựa trên một số chỉ tiêu định lượng, có thể chưa phản ánh đầy đủ giá trị của những công trình nghiên cứu nền tảng, vai trò đào tạo cán bộ trẻ, xây dựng nhóm nghiên cứu hoặc giải quyết những khâu khó của nhiệm vụ. Do đó, cần có cách nhìn toàn diện hơn về đóng góp của từng cán bộ khoa học.

Năng lực của đội ngũ cán bộ chính trị trong việc đồng hành với nhà khoa học là vấn đề cần được quan tâm. Cán bộ chính trị không chỉ được đào tạo nghiệp vụ CTĐ, CTCT mà còn phải hiểu đặc điểm lao động khoa học, quy trình nghiên cứu, tâm lý của đội ngũ trí thức và những vấn đề nảy sinh trong hoạt động khoa học, công nghệ. Nếu thiếu hiểu biết về chuyên môn và môi trường nghiên cứu, CTĐ, CTCT dễ rơi vào tình trạng chung chung, hành chính hóa.

  Viện Thiết kế tàu quân sự tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và phát động Phong trào Thi đua Quyết thắng năm 2026.

 Viện Thiết kế tàu quân sự tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và phát động Phong trào Thi đua Quyết thắng năm 2026.

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT tại các viện nghiên cứu trong Quân đội

Một là, đổi mới nhận thức và cơ chế lãnh đạo của cấp ủy đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Trước hết, cần thống nhất nhận thức trong cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị về vị trí của CTĐ, CTCT trong hoạt động nghiên cứu khoa học. CTĐ, CTCT không phải là một mặt công tác được tiến hành song song với chuyên môn, càng không phải là nhiệm vụ riêng của chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, mà là một bộ phận trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của viện nghiên cứu.

Từ nhận thức đó, cấp ủy phải đưa nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao kết quả vào nghị quyết lãnh đạo; đồng thời xác định rõ những vấn đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ cần tập trung giải quyết trong từng nhiệm vụ. Nghị quyết phải lựa chọn đúng khâu đột phá, tập trung vào những nhiệm vụ trọng điểm, những công trình khó, những lĩnh vực có ý nghĩa trực tiếp đối với xây dựng Quân đội và củng cố quốc phòng.

Tổ chức đảng phải lãnh đạo bằng những chủ trương cụ thể đối với nhiệm vụ khoa học; người chỉ huy tổ chức thực hiện; cơ quan chính trị tham mưu, hướng dẫn về tổ chức, con người, tư tưởng; các cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm về chất lượng khoa học. Cấp ủy phải có năng lực lãnh đạo cả nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn; hiểu đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học, nắm được những vấn đề trọng tâm trong từng lĩnh vực để xác định chủ trương lãnh đạo đúng và sát. Nghị quyết của cấp ủy phải ngắn gọn, cụ thể, xác định đúng khâu đột phá, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả cần đạt.

Một yêu cầu quan trọng là nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ. Sinh hoạt lãnh đạo phải thực sự là nơi thực hành dân chủ, bàn những vấn đề quan trọng của đơn vị, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, xây dựng đội ngũ, quản lý cán bộ, giữ gìn đoàn kết nội bộ và chấp hành kỷ luật. Cần hạn chế tình trạng sinh hoạt nặng về đọc báo cáo, phổ biến văn bản mà ít trao đổi, thảo luận những vấn đề thực tế đang đặt ra.

Đồng thời, phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ nhiệm đề tài và các nhà khoa học giữ vị trí nòng cốt. Trong môi trường trí thức, sự nêu gương có sức thuyết phục lớn. Một cán bộ chủ trì nghiêm túc trong nghiên cứu, công tâm trong nhận xét, đánh giá, tôn trọng đồng nghiệp, sẵn sàng nhận trách nhiệm khi công việc chưa đạt yêu cầu sẽ tạo ảnh hưởng tích cực đối với tập thể.

Công tác phát triển Đảng cũng cần gắn với phát hiện, bồi dưỡng những cán bộ khoa học trẻ có năng lực, phẩm chất và uy tín. Đảng viên trong các viện nghiên cứu không chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn mà phải là lực lượng nòng cốt trong xây dựng tập thể, lan tỏa tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ Quân đội.

Hai là, xây dựng động cơ, bản lĩnh và liêm chính của người làm khoa học, phát huy đúng người, đúng sở trường và bảo đảm kế thừa.

Đặc thù nghiên cứu khoa học là quá trình dài, phức tạp, có thể gặp thất bại, chậm tiến độ hoặc phải thay đổi hướng tiếp cận. Vì vậy, CTĐ, CTCT cần giúp cán bộ khoa học hình thành động cơ nghiên cứu đúng đắn, ý thức rõ trách nhiệm đối với Quân đội và đất nước, đồng thời có bản lĩnh trước khó khăn, thất bại trong nghiên cứu.

Muốn vậy, phải nắm chắc diễn biến tư tưởng từ thực tiễn hoạt động của từng nhóm nghiên cứu. Cán bộ chính trị không chỉ nắm tình hình thông qua báo cáo mà cần trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với cán bộ khoa học, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến điều kiện nghiên cứu, tiến độ nhiệm vụ, cơ hội phát triển chuyên môn, chế độ chính sách, sự ghi nhận thành tích và những vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Với đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, sức thuyết phục của công tác tư tưởng phải dựa nhiều hơn vào lý lẽ, thực tiễn và hiệu quả công việc; tăng trao đổi, đối thoại, giải đáp những vấn đề cán bộ quan tâm, hạn chế cách truyền đạt một chiều. Đồng thời, phải coi giáo dục đạo đức khoa học, tính trung thực, khách quan, chính xác và trách nhiệm là một nội dung thường xuyên của CTĐ, CTCT.

Cần đánh giá đúng năng lực, sở trường của từng cán bộ để bố trí phù hợp với vị trí nghiên cứu. Có người có năng lực nghiên cứu cơ bản, có người mạnh về thiết kế, thử nghiệm, có người giỏi tổ chức thực hiện hoặc chuyển giao công nghệ... Việc sử dụng đúng sở trường không chỉ nâng cao hiệu quả công việc mà còn tạo điều kiện để cán bộ phát huy năng lực và gắn bó lâu dài với nhiệm vụ.

Cùng với trọng dụng chuyên gia đầu ngành, cần đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng kế cận. Các viện nghiên cứu phải từng bước hình thành những nhóm nghiên cứu chuyên sâu, nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng kế thừa, tránh phụ thuộc quá lớn vào một vài cá nhân. Chuyên gia đầu ngành cần được tạo điều kiện tham gia đào tạo, hướng dẫn cán bộ trẻ, truyền thụ phương pháp và kinh nghiệm xử lý các nhiệm vụ khó.

Đối với cán bộ trẻ, cần tạo cơ hội tham gia các đề tài quan trọng, được giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực và được tiếp cận các điều kiện nghiên cứu cần thiết. Công tác phát triển Đảng cũng cần gắn với quá trình phát hiện, bồi dưỡng những cán bộ khoa học trẻ có năng lực, phẩm chất và uy tín, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia khoa học cho những năm tiếp theo.

Ba là, tổ chức đánh giá và đãi ngộ phù hợp với lao động khoa học, tạo lập môi trường nghiên cứu dân chủ gắn với kỷ luật.

Động lực của người làm khoa học không chỉ đến từ tiền lương, phụ cấp hay khen thưởng mà còn từ cơ hội phát triển chuyên môn, quyền được nghiên cứu, môi trường làm việc, sự ghi nhận và khả năng phát huy sở trường. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị cần chủ động tham mưu, đề xuất các cơ chế phù hợp trong phạm vi thẩm quyền; bảo đảm việc đánh giá, khen thưởng cán bộ khoa học công bằng, minh bạch và dựa trên đóng góp thực chất.

Cần khắc phục cách đánh giá quá thiên về các chỉ tiêu định lượng. Một công trình nghiên cứu cơ bản có thể chưa tạo ra sản phẩm ngay nhưng có giá trị nền tảng lâu dài; một cán bộ có thể không có nhiều sáng kiến nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong đào tạo cán bộ trẻ, xây dựng nhóm nghiên cứu hoặc giải quyết những khâu khó. Vì vậy, đánh giá phải xem xét cả kết quả trước mắt và đóng góp lâu dài đối với năng lực khoa học của đơn vị.

Đối với những cán bộ, nhóm nghiên cứu có đóng góp nổi bật, cần có hình thức ghi nhận kịp thời, thực chất. Sự ghi nhận đúng lúc không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân mà còn tạo hiệu ứng động viên trong toàn đơn vị.

Nghiên cứu khoa học cần một môi trường trong đó cán bộ có thể trình bày ý tưởng, trao đổi, phản biện và thử nghiệm. Vì vậy, cần xây dựng văn hóa tranh luận khoa học thẳng thắn, tôn trọng sự khác biệt về phương pháp và cách tiếp cận; phản biện vấn đề, không quy chụp con người. Cấp ủy, chỉ huy cần tạo điều kiện để các nhóm nghiên cứu tổ chức tọa đàm chuyên môn, sinh hoạt khoa học, phản biện nội bộ và trao đổi về những vấn đề mới.

Tuy nhiên, dân chủ trong nghiên cứu phải gắn với kỷ luật. Đối với viện nghiên cứu quân sự, chấp hành kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy, bảo vệ bí mật, quản lý dữ liệu, an toàn phòng thí nghiệm, sử dụng trang thiết bị và chấp hành các quy định về bảo mật là yêu cầu bắt buộc. Cần làm cho cán bộ nhận thức rõ rằng kỷ luật không đối lập với sáng tạo mà là điều kiện bảo đảm cho hoạt động sáng tạo đúng hướng và an toàn.

Trong điều kiện chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cần bổ sung những yêu cầu mới về bảo vệ dữ liệu, bản quyền, kiểm chứng thông tin và trách nhiệm của người sử dụng công nghệ. Đây là những vấn đề cần được cụ thể hóa trong quy chế và giáo dục thường xuyên tại từng viện nghiên cứu.

Bốn là, đưa kết quả nghiên cứu gần hơn với thực tiễn đơn vị, gắn với nhiệm vụ xây dựng Quân đội.

Một trong những yêu cầu đặt ra đối với các viện nghiên cứu trong Quân đội là phải gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng và bảo đảm kỹ thuật. Vì vậy, CTĐ, CTCT cần phát huy vai trò định hướng, kết nối, tạo môi trường để cán bộ nghiên cứu thường xuyên tiếp cận thực tiễn đơn vị, từ đó nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa và trách nhiệm của hoạt động nghiên cứu đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các viện cần phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng cơ chế để cán bộ, nhóm nghiên cứu có điều kiện khảo sát thực tế tại các đơn vị trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng vũ khí, trang bị và các sản phẩm khoa học, công nghệ do viện nghiên cứu. Việc khảo sát không nên chỉ dừng ở thu thập thông tin phục vụ đề tài mà cần hướng vào việc tìm hiểu một cách cụ thể bộ đội đang gặp khó khăn gì, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra như thế nào, trang bị được sử dụng trong điều kiện nào, những điểm bất cập của sản phẩm hiện có và vấn đề nào cần được giải quyết bằng khoa học, công nghệ. Qua tiếp xúc trực tiếp với cơ sở, cán bộ nghiên cứu có thể nhìn thấy rõ hơn “đầu ra” của công trình khoa học không phải chỉ là một báo cáo, sáng kiến hay sản phẩm nghiệm thu, mà cuối cùng phải được chuyển hóa thành năng lực thực tế phục vụ bộ đội.

Cùng với khảo sát, cần tạo điều kiện để cán bộ cơ sở, cán bộ kỹ thuật và trực tiếp sử dụng sản phẩm tham gia ngay từ những khâu xác định nhu cầu, xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm. Có thể tổ chức các cuộc tọa đàm, diễn đàn khoa học giữa nhà nghiên cứu với đơn vị sử dụng; thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh, đánh giá sau khi sản phẩm được đưa vào thử nghiệm, sử dụng; định kỳ tổ chức sơ kết, trao đổi về những kết quả đạt được, hạn chế và yêu cầu tiếp tục hoàn thiện.

Đặc biệt, cần coi phản hồi của đơn vị sử dụng là một nguồn thông tin quan trọng để điều chỉnh hoạt động nghiên cứu. Những khó khăn phát sinh trong quá trình thử nghiệm, vận hành hoặc khai thác sản phẩm phải được chuyển trở lại nhóm nghiên cứu để phân tích, hoàn thiện. Đối với những vấn đề vượt quá khả năng giải quyết của một nhóm nghiên cứu, cơ quan chính trị có thể phối hợp với cơ quan chức năng tham mưu cấp ủy, chỉ huy tổ chức liên kết các lực lượng có liên quan, hình thành nhóm nghiên cứu liên ngành hoặc đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu bổ sung.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện tổ chức, biên chế, nâng cao năng lực của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ chính trị trong môi trường nghiên cứu.

Việc cơ cấu, sắp xếp, kiện toàn lại các viện nghiên cứu là tất yếu. Tuy nhiên, cần triển khai khách quan, đảm bảo tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phải được xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ. Các viện nghiên cứu cần được rà soát kỹ lưỡng trong tổ chức, sắp xếp lại để phát huy tối đa hiệu quả nguồn nhân sự hiện có.

Tổ chức đảng ở viện nghiên cứu phải có năng lực lãnh đạo phù hợp với đặc điểm hoạt động khoa học. Sinh hoạt cấp ủy, chi bộ cần dành thời gian bàn những vấn đề thực tế như tiến độ nhiệm vụ, xây dựng nhóm nghiên cứu, thu hút cán bộ trẻ, phát huy chuyên gia đầu ngành, phối hợp giữa các bộ môn, phòng, ban và những vấn đề đang tác động đến tư tưởng cán bộ.

Đối với đội ngũ cán bộ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, yêu cầu đặt ra không chỉ là vững về nghiệp vụ mà còn phải hiểu tương đối sâu về đặc điểm lao động khoa học. Cán bộ chính trị cần chủ động học hỏi, trao đổi với nhà khoa học, tìm hiểu quy trình nghiên cứu và những khó khăn đặc thù của từng lĩnh vực. Khi hiểu công việc của người làm khoa học, việc tham mưu, vận động, thuyết phục và giải quyết vấn đề tư tưởng, tổ chức, cán bộ sẽ sát thực tế hơn.

Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan chính trị và cơ quan khoa học ngay từ khi xác định nhiệm vụ, không chờ đến khi xuất hiện vấn đề mới tham gia giải quyết. Cơ quan chính trị phải thực sự trở thành cầu nối giữa cấp ủy, chỉ huy với đội ngũ trí thức, nhà khoa học.

Sáu là, tăng cường kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động phòng ngừa và xử lý từ cơ sở.

Kiểm tra, giám sát cần được xác định là phương thức bảo đảm kỷ cương và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động nghiên cứu. Nội dung kiểm tra phải tập trung vào việc chấp hành nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước và kỷ luật Quân đội; thực hiện quy chế nghiên cứu; quản lý tài chính, vật tư, trang thiết bị; bảo đảm an toàn; bảo vệ bí mật; đạo đức khoa học và trách nhiệm của cán bộ.

Cần chuyển từ tư duy kiểm tra chủ yếu để phát hiện sai phạm sang chủ động phòng ngừa. Những biểu hiện lệch chuẩn, thiếu chặt chẽ trong quản lý dữ liệu, sử dụng trang thiết bị, thực hiện quy trình nghiên cứu hoặc chấp hành quy định bảo mật phải được phát hiện và điều chỉnh sớm.

Cùng với kiểm tra, phải chú trọng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nội bộ. Đội ngũ khoa học có sự khác biệt về chuyên môn, kinh nghiệm và phương pháp tư duy nên có thể xuất hiện những quan điểm khác nhau. Do đó, phải coi trọng xây dựng đoàn kết nội bộ. Môi trường nghiên cứu tập hợp nhiều cá nhân có trình độ, chuyên môn và cá tính nghề nghiệp khác nhau nên dễ phát sinh khác biệt quan điểm. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị phải kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh, không để mâu thuẫn nhỏ kéo dài thành vấn đề lớn. Đoàn kết trong viện nghiên cứu không phải là đồng thuận hình thức. Đó phải là sự thống nhất trên cơ sở nguyên tắc, mục tiêu chung và tôn trọng lẫn nhau. Có thể có những ý kiến khác nhau về phương pháp nghiên cứu, hướng tiếp cận hoặc giải pháp kỹ thuật, nhưng sau khi đã thống nhất theo đúng quy trình thì mọi người phải nghiêm túc thực hiện. 

Trong xây dựng Quân đội hiện đại, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với khả năng làm chủ vũ khí, trang bị và phương thức tác chiến mới. Các viện nghiên cứu trong Quân đội vì thế đứng trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, tốc độ đổi mới và khả năng chuyển hóa kết quả khoa học thành sức mạnh phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, cần phát huy đồng bộ nhiều yếu tố, trong đó việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nâng cao hiệu quả CTĐ, CTCT ở các viện nghiên cứu làm cho công tác này thực sự hiện diện trong từng nhiệm vụ, từng nhóm nghiên cứu là cơ sở để mỗi cán bộ đảng viên thực hiện “5 vững”, “6 rõ”, “7 dám”.

Khi CTĐ, CTCT được tiến hành đúng, hiệu quả sẽ tạo ra nguồn động lực tinh thần, góp phần quy tụ và phát huy sức mạnh của đội ngũ khoa học, xây dựng các viện nghiên cứu vững mạnh về chính trị, tổ chức, cán bộ; nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển và làm chủ khoa học, công nghệ quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.

Đại tá, Thạc sĩ LÊ ANH TUẤN, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Viện Thiết kế tàu quân sự

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/tien-hanh-cong-tac-dang-cong-tac-chinh-tri-tai-cac-vien-nghien-cuu-trong-quan-doi-dap-ung-yeu-cau-nhiem-vu-trong-tinh-hinh-moi-1059704