Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ V
Tháng 10/1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tập trung một số họa sĩ (Nguyễn Huyến, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Lê Phả…) bắt đầu vẽ và in những tờ giấy bạc Việt Nam đầu tiên. Sau đó, các loại giấy bạc mệnh giá 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng được in ấn và phát hành từ năm 1945 đến năm 1951.

Giấy bạc 200 đồng, 1950
Giấy bạc 200 đồng: Kích thước 168 x 71mm, hai mặt màu nâu xanh. Mặt trước, bên phải là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên trái là cảnh trên chiến trường, bộ đội đang giương súng tấn công địch. Mặt sau là cảnh hậu phương nông dân thu hoạch mùa màng, có dòng chữ “BẢO VỆ MÙA MÀNG”, có dấu “Giấy mẫu bạc Việt Nam”. Tờ giấy bạc này phát hành năm 1950.

Giấy bạc 500 đồng, 1949
Giấy bạc 500 đồng: Kích thước 168 x 77mm, màu xanh dương và cam cho cả hai mặt, mặt trước in hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh (bên phải) và nam nữ thanh niên cầm đuốc (bên trái), mặt sau in cảnh trận đánh chìm tàu Pháp trên sông Lô. Tờ tiền này phát hành năm 1949.
Giấy bạc tài chính tuy kỹ thuật in thô sơ, lại ra đời trong bối cảnh Nhà nước không có vật bảo đảm giá trị tương ứng nhưng được nhân dân tín nhiệm và quen gọi là Giấy bạc cụ Hồ.
Ngày 15/4/1948, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 160/SL phát hành Công phiếu kháng chiến trong toàn quốc với tổng số phát hành là 500 triệu đồng, nhằm hai mục đích:
Một là, huy động số tiền nhàn rỗi trong dân để đưa ra phục vụ sản xuất và phục vụ kháng chiến. Hai là, dùng Công phiếu kháng chiến như một thứ tiền dự trữ nếu trong trường hợp địa phương không nhận được tiền tiếp tế của Trung ương, thì Ủy ban KCHC địa phương có thể ban bố lệnh lưu hành Công phiếu kháng chiến như một loại giấy bạc.
Công phiếu kháng chiến có 4 loại: Loại vô danh 200 đồng và 1.000 đồng. Loại ký danh 5.000 đồng và 10.000 đồng. Trong đó, chỉ loại vô danh mới được sử dụng như một loại giấy bạc trong trường hợp cần thiết.

Công phiếu kháng chiến Hai trăm đồng
Công phiếu kháng chiến của 3 khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, Nam Bộ in không hoàn toàn giống nhau về hình thức và màu sắc nhưng đều có kích thước chung 230 x 148 mm. Mặt trước in hình ảnh chiến sĩ giải phóng quân bên lá cờ Tổ quốc và bản đồ đất nước Việt Nam. Mặt sau ghi thể lệ phát hành công phiếu kháng chiến.
Công phiếu kháng chiến đã góp phần giảm bớt áp lực lạm phát, tăng nguồn thu tài chính tạm thời cho kháng chiến và bổ sung thêm đa dạng thị trường tiền tệ lưu hành trong những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Để đẩy mạnh kháng chiến, đáp ứng nhu cầu chi tiêu càng lớn và chống việc làm giấy bạc tài chính giả, ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và giao cho Ngân hàng năm nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ “Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ…”.
Việc phát hành đồng tiền Ngân hàng và thu hồi giấy bạc Tài chính ở Bắc Bộ ấn định một đồng Việt Nam do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành có giá trị bằng mười đồng do Bộ Tài chính phát hành được tiến hành từ ngày 01/6/1951.
Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam











