Trở lại làng nằm biệt lập giữa đại ngàn Trường Sơn (Kỳ 1: Ước vọng từ Aur)
Hơn 10 năm trước, tôi đã có dịp lên với thôn Aur (xã A Vương, huyện Tây Giang, Quảng Nam cũ), nằm biệt lập giữa đại ngàn Trường Sơn. Trung tuần tháng 1-2026, sau hơn 6 giờ vật lộn với con đường mòn độc đạo, dằng dặc đèo dốc, suối sâu, chúng tôi lại lên với Aur. Làng vẫn thế, vẫn cách biệt với xã hội văn minh bên ngoài, yên bình như khu vườn cổ tích xa xưa...


Đoàn công tác UBND xã A Vương lên làng Aur và một góc làng Aur.
Từ khi triển khai chính quyền 2 cấp, thôn Aur thuộc xã A Vương mới của TP Đà Nẵng. Lâu lắm mới gặp lại, già làng A lăng Gieng vui lắm, nắm tay tôi kéo tuốt lên ngọn đồi bên làng khoe, hệ thống điện chiếu sáng pin năng lượng mặt trời mới hoàn thành 1 ngày trước.
Anh Briu Quân- Chủ tịch UBND xã A Vương cho biết, đây là dự án của huyện Tây Giang cũ, có từ những năm trước nhưng lần lữa mãi vẫn chưa thực hiện được. Triển khai chính quyền 2 cấp, dự án được xác định là những việc làm ngay của chính quyền xã A Vương dành cho nhân dân.
Dự án được triển khai với kinh phí gần 2,5 tỷ đồng, hơn 2 tháng qua, lực lượng thi công, bà con nhân dân thôn Aur đã vận chuyển hàng chục tấn sắt thép, kính, nguyên vật liệu vượt qua gần 20km đường mòn đèo dốc bằng trâu kéo, xe đạp thồ và người mang vác để đưa lên Aur lắp ráp. “Đây là công trình vì dân, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV”, anh Briu Quân phấn khởi cho biết.
Lần đầu tiên, từ thời xa lắc nào đó, bà con Cơ Tu thôn Aur có điện chiếu sáng giữa nhà Gươl để trò chuyện. Có điện thì vui rồi, đi nương, đi rãy về chiều muộn có điện sáng để dọn dẹp nhà cửa, để nấu cơm, để ngồi trò chuyện. Nhưng vẫn băn khoăn, muốn mua cái tivi, mua cái điện thoại để gọi cho nhau, nhưng vẫn không có sóng để xem, để gọi. Lại một vấn đề nữa đây, nhưng vấn đề này của ngành viễn thông, phải bàn với họ, không biết họ có “chịu” không, khi Aur không có đường giao thông để vận chuyển trang thiết bị...
Trưởng thôn Ating Del đã có thời gian làm Công an viên, nên rất năng nổ cho biết, thôn Aur có 24 hộ dân, 104 nhân khẩu, đời sống người dân ổn định vì thôn có diện tích ruộng lúa nước rất lớn, thóc lúa đủ ăn quanh năm. Nhà nào cũng chăn nuôi được nhiều gà, heo, bò, trâu, nét đặc biệt ở Aur thôn có khu chăn nuôi cách biệt thôn, đảm bảo vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, nên việc chăn nuôi cũng rất hiệu quả. Nhiều gia đình có ao thả cá do có nguồn nước khe núi rất sạch, thả cá tầm, cá hồi là những loại cá đặc sản. Gia đình nào trong thôn cũng trồng rất nhiều diện tích cây dược liệu như ba kích, sâm 7 lá, đặc biệt là diện tích cây quế rất lớn.
Trưởng thôn Ating Del trăn trở, lúa gạo, heo gà, cây dược liệu có đủ để xuất bán, nhưng ngặt nỗi không có đường giao thông, nên dân trong làng cũng không thể xuất bán cho ai, có gọi người từ ngoài làng thì họ cũng không thể vào làng để vận chuyển, vậy là cứ trong vòng luẩn quẩn. Trưởng thôn cho biết, ngay như cây quế, giá thị trường là 15 nghìn đồng/kg, nếu thu hoạch nhanh tại chỗ thì trong thôn có thể tới cả 100 tấn. Nhưng cũng đành chịu, làm sao có thể gùi cõng 1 tấn quế vượt gần 20km đường rừng đi bán. Vậy là nhìn lại, nếu vào thôn thì thấy đời sống người dân ổn định, nhưng thực ra vẫn nghèo!
Kinh tế thì như vậy, còn chuyện đời sống lại vừa buồn cười, vừa buồn nữa… Thôn có 2 cán bộ y tế, phụ cấp tháng mỗi người 600 nghìn đồng, công việc là “theo dõi” bà con xem có ai bị đau ốm, bệnh tật gì không, vệ sinh môi trường có sạch sẽ không. Do không có nghiệp vụ chuyên môn, nên “cán bộ” cũng không được phép cấp thuốc, khám bệnh, tiêm truyền gì cho người bệnh. Chỉ mỗi cái “khổ”, đó là mỗi tháng mất 3 ngày đi họp ngoài Trạm Y tế xã. Không những cán bộ y tế, cán bộ thôn phụ trách lĩnh vực nào cũng vậy, từ Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, đoàn thanh niên, Hội phụ nữ… mỗi lần đi họp ngoài xã đều mất 3 ngày: 1 ngày đi, 1 ngày họp, 1 ngày về.
Alăng Thông, bác sĩ cộng đồng Trạm Y tế xã A Vương kể, thôn không có cán bộ Y tế chuyên môn, nên mỗi khi người đau ốm phải khiêng vượt đường rừng ra Trạm Y tế xã, vậy mà cũng “lạ”, đã lâu rồi trong thôn chẳng thấy ai đau ốm, hình như mọi người “sợ” phải khiêng vượt rừng. Chỉ có hồi tháng 7-2025, một trường hợp phụ nữ đẻ khó, dân làng phải khiêng ra trạm Y tế xã, nhưng hình như chị ấy cũng “sợ”, đi được nửa đường sinh con luôn trên đỉnh dốc, bà con khiêng lại về thôn tự chăm sóc…
Còn thầy giáo Nguyễn Văn Toan, giáo viên cắm bản tại thôn Aur cho biết, cả thôn hiện có 21 em học sinh, đều ra học trường nội trú ngoài trung tâm xã, trong thôn chỉ có 2 em học lớp 2, bị khuyết tật và có hoàn cảnh neo đơn không thể đi học tập trung vì đường đi bộ xa xôi, vậy là theo “phương châm” của ngành giáo dục không để em học sinh nào thất học, thầy Toan là giáo viên “chủ nhiệm” của 2 em. Hằng ngày, lớp học của thầy Toan vẫn mở ngày 2 buổi đàng hoàng, bên cạnh 2 em học lớp 2, bà con trong thôn gửi thêm 2 em lứa tuổi học mẫu giáo thầy Toan quản lý luôn, để thầy vận dụng hết “công suất” giáo viên cắm bản.
Dưới ánh đèn điện, câu chuyện trong nhà Guơl của bà con Aur kể mãi không hết. Alăng Pích đã tốt nghiệp Đại học ngành giáo dục thể chất cộng đồng tại Đà Nẵng, hiện tham gia lực lượng Bảo vệ ANTT cơ sở tại thôn lại kể, năm nay Pích đã gần 30 tuổi, nhưng vẫn “không dám” lấy vợ. Pích bảo, có yêu con gái ở thôn khác, nhưng họ sợ về thôn Aur vì phải đi bộ cả ngày, mà Pích thì không thể ở rể, vì còn cha mẹ già phải chăm sóc.
Ở Aur, tôi gặp lại chị Ating Thêu là con gái của một người chiến sỹ quân giải phóng người Hà Nội, trong những năm đánh Mỹ, câu chuyện tình đầy lãng mạn này tôi đã kể trong một bài viết trên Báo Công an TP Đà Nẵng cách đây hơn 10 năm, qua lời kể của mẹ chị Thêu, người phụ nữ Cơ Tu làng Aur, bà đã mất mấy năm sau đó. Chị Thêu đã ra Hà Nội thăm gia đình cha đẻ của mình, anh em gia đình ngoài ấy rất quý mến chị, nhưng vì đường xá xa xôi, kinh tế eo hẹp, đã gần 10 năm qua, chị Thêu đành để nỗi nhớ người cha, giữa đại ngàn Trường Sơn xa thẳm.
HỒNG THANH (còn nữa)











