'Tiếng của rừng': Khi rừng kể về con người
Trong tác phẩm mới 'Tiếng của rừng', nhà văn Vĩnh Quyền tiếp tục khai thác đề tài sinh thái gây được dấu ấn từ tiểu thuyết 'Thương ngàn' nhưng mới mẻ và độc đáo hơn, kết hợp văn chương, nhiếp ảnh với bối cảnh đặt trong thế giới toàn cầu hóa.
Cuốn sách xoay quanh câu chuyện của một thiếu niên 16 tuổi và những gặp gỡ mà cậu có được với nhiều cá nhân có một điểm chung: gắn bó với rừng Sơn Trà. Đó là người ông đã dẫn dắt cậu đến với nơi đây từ thời thơ ấu, là nhà hoạt động sinh thái Vũ Khanh chuyên cứu trợ động vật mà bản thân anh cũng có quá khứ gắn với thiên nhiên một cách phức tạp…
Không dừng ở những “đồng hương”, cuốn sách cũng mở rộng sang cả mạng lưới rộng hơn những người yêu quý thiên nhiên trên khắp thế giới, kết nối với nhau một cách trực tiếp về mặt vật lý cũng như gián tiếp qua mạng xã hội. Có thể kể đến Akiko – cô gái Nhật Bản cùng tuổi, người đứng sau tổ chức Following in the Wings of Wild Birds theo dõi hành trình của các loài chim di cư; Sofia – một nghiên cứu sinh người Ý đến với nơi đây theo dõi loài voọc đặc hữu…
Trong hành trình đó, cậu cũng được nghe rất nhiều câu chuyện từ cổ chí kim, có cả đẹp đẽ cũng như xấu xí, từ đó phản ánh thực trạng của ngày hôm nay. Qua đó, tác phẩm thêm một lần nữa cho ta thấy được vẻ đẹp và sự không ngừng dịch chuyển của chính tự nhiên, cũng như hai mặt tác động đến từ con người.

Nhà văn Vĩnh Quyền thể hiện hai lĩnh vực gắn bó sâu sắc với mình trong tác phẩm: văn chương và nhiếp ảnh. Ảnh: Phan Văn Phú
Không gian “biết nói”
Là tác phẩm có chủ đề chính là sinh thái, không quá khó thấy bối cảnh cũng là nhân vật tham gia rất sâu vào trong mạch truyện. Ở Tiếng của rừng, đó là khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà “rộng khoảng 4.500 hecta, cao gần 700 mét so với mực nước biển, gối đầu lên bờ cát vàng mịn dọc sườn đông thành phố Đà Nẵng và dầm chân vào sóng Biển Đông xô vỗ vô hồi từ thuở hồng hoang”.
Không chỉ tuyệt đẹp, nơi đây cũng rất lâu đời, vô cùng phong phú: “Cánh rừng này hình thành từ kỷ Cambri cách đây 2.000 triệu năm, hưởng khí hậu nhiệt đới biển, có giờ nắng trong năm trung bình từ 1.800 - 2.000 giờ. Tuy diện tích có phần khiêm tốn nhưng Sơn Trà nuôi chứa những 366 loài động vật và được phủ xanh bởi hơn 1.000 loài thực vật bậc cao”.
Với một “nhân vật” đặc biệt như vậy, Vĩnh Quyền đã thành công khắc họa vẻ đẹp của chính nơi đây qua các loài sinh vật đặc hữu. Trong sách, ông dành nhiều thời lượng cho loài voọc vá chân nâu sở hữu “bộ cánh” năm màu tuyệt mỹ chỉ xuất hiện ở Đông Dương và được giới động vật học quốc tế tôn vinh là “Queen of Primates” - “Nữ hoàng Linh trưởng”.

Loài voọc vá chân nâu sở hữu “bộ cánh” năm màu tuyệt mỹ được nhắc nhiều trong tác phẩm. Ảnh: Vĩnh Quyền
Đi kèm với chúng là hệ thực vật vô cùng phong phú, từ thức ăn của voọc như lim, sung, thàn mát phô diễn sắc tím đa dạng sắc thái theo cường độ ánh sáng và vòng sinh trưởng, cho đến những loài cũng chỉ nơi này mới có: riềng gợn sóng, muôi dằm, dành dành…
Không dừng ở đó, ông cũng nhắc đến nhiều loài di cư đến với nơi đây để tránh cái lạnh khắc nghiệt. Đó là chú Oanh mặt đỏ đặc hữu cực Bắc Nhật Bản mất gần 4 tuần để bay từ Hokkaido đến với Sơn Trà; là Oanh họng đỏ Siberia mất đến 6 tuần thiên di cũng như chim Rẽ cổ xám từ Bắc Bán Cầu…
Qua đó hệ sinh thái rừng Sơn Trà hiện ra phong phú và rất đa dạng, từ các loài đặc hữu đến những loài di cư. Không chỉ trên không mà ngay bên dưới, nơi đây cũng đã tiếp đón đông đảo những con người có chung tình yêu dành cho thiên nhiên. Dễ thấy việc miêu tả rõ, chính xác nơi đây giúp cho bối cảnh không còn đơn thuần chỉ là phông nền, mà đã trở thành một cơ thể sống với lịch sử, nhịp điệu và ký ức riêng.
Dẫu thế không phải tác động nào cũng tích cực. Trong sách, nhà văn Vĩnh Quyền cho thấy tuy có đặc trưng là “phố xá - cửa biển - cánh rừng” gối đầu vào nhau, từ đó được gọi là “rừng trong phố biển”, thế nhưng con người cũng đang để lại rất nhiều tác động theo nghĩa tiêu cực tại chính Sơn Trà.

Hình ảnh cho thấy đặc trưng là “phố xá - cửa biển - cánh rừng” của Sơn Trà. Đó vừa là điểm riêng biệt. Ảnh: Vĩnh Quyền
Tuyệt vọng và cả hy vọng
Đó là “bẫy lưới ở trên, bẫy sắt dưới đất” khiến nhiều loài bị thương, thậm chí thiệt mạng. Trong đó, chi tiết cậu thiếu niên chứng kiến ánh mắt phẫn nộ và đầy giận dữ mà chú voọc vá chân nâu ném về phía mình khi mắc bẫy sắt là vô cùng ám ảnh. Ở đó có sự căm phẫn của tự nhiên lẫn cái bất lực khi sự hồn nhiên mong muốn hòa hợp đã bị bội phản…
Xa hơn cả thế, tác giả cũng nhắc đến những điều khác: việc thả chim phóng sinh có thật “giải phóng” con người như họ mong muốn, tác động của flash đến khả năng quan sát của động vật, sự gần gũi quá mức khiến động vật hoang dã đánh mất bản năng, cũng như quy hoạch, đô thị xâm lấn làm ảnh hưởng lớn đến chính tự nhiên…

Chim Oanh mặt đỏ Nhật Bản là một trong những loài di trú được tác giả mang vào tác phẩm. Ảnh: Vĩnh Quyền
Không chỉ câu chữ, cuốn sách còn là một sự hòa quyện giữa văn xuôi và nhiếp ảnh mới lạ, qua đó đôi khi không cần giãi bày mà những bức ảnh có một sức mạnh vô cùng riêng biệt. Tại đây, những tác phẩm do tác giả trực tiếp “bấm máy” không chỉ đơn thuần minh họa cho phần câu từ, mà chính hình thức này mới lột tả hết vẻ đẹp choáng ngợp cũng như là sự bạo tàn con người mang đến.
Đơn cử bìa sách ghi lại khoảnh khắc voọc mẹ ôm theo voọc con chuyền qua lại giữa các nhành cây mang đến cảm xúc thiêng liêng về tình mẫu tử cũng như đời sống thiên nhiên vốn dĩ phóng khoáng, tự do. Trong khi đó bức gia đình nhà voọc ngồi trên cành cây, xa xa là biển rồi đến đời sống con người cho thấy ranh giới thiên nhiên – đô thị hóa ra rất gần, và những tác động mà ta mang đến ảnh hưởng thế nào…

Sách do NXB Trẻ ấn hành, tiếp tục ghi dấu Vĩnh Quyền trong địa hạt văn chương sinh thái và cách tân nghệ thuật viết. Ảnh: NXB Trẻ
Vậy liệu có phương án nào cải thiện điều đó? Trong sách, việc cho nhân vật Akiko xuất hiện không phải không có lý do, để từ đây Vĩnh Quyền kết hợp hoàn hảo yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong việc đề cập đến Đền Meiji vốn được xem là “khu rừng vĩnh cửu” tọa lạc trong lòng đô thị Nhật Bản, đồng thời là cách nơi đây đã được bảo tồn suốt hàng trăm năm. Ở đây ta thấy Sơn Trà có phần tương tự, thậm chí còn đặc biệt hơn khi là món quà đến từ thiên nhiên thay vì “nhân tạo” như công trình trên. Đó là bài học không nên bỏ qua.
Cho đến sau cùng, việc xây dựng người kể chuyện là một thiếu niên, có cuộc gặp gỡ từ bốn phương trời với rất nhiều người… ẩn chứa thông điệp có nhiều hy vọng của chính tác giả về thế hệ trẻ và tương lai gần. Dù nhiều hạn chế và các mất mát vẫn đang hiện tồn, nhưng có thể thấy một cánh cửa mới đang được mở ra. Qua đó Tiếng của rừng không chỉ là lời cảnh tỉnh mà còn mang đến cả sự tin tưởng, khi từ bối cảnh có phần chìm khuất, “nhân vật” tuyệt vời chính là thiên nhiên đã kịp cất lời, cho ta thấy sự bao dung, vẻ đẹp của mình.
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/tieng-cua-rung-khi-rung-ke-ve-con-nguoi-53471.html











