Tiếng nói của lòng dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số giữa nghị trường - Bài 1: Từ bản đá, bản mây đến nghị trường Quốc hội

Trong suốt lịch sử 80 năm Quốc hội Việt Nam, những đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là người dân tộc thiểu số (DTTS) luôn là một phần không thể thiếu tại ngôi nhà chung Quốc hội Việt Nam. Có những người làm ĐBQH 51 năm, từ khóa I tới khóa IX như bác sĩ Y Ngông Niê Kđăm; phải đi bộ hàng chục ngày trời từ cực Bắc Tổ quốc về Hà Nội họp Quốc hội như ĐBQH Vừ Mí Kẻ; có người làm Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội như đồng chí Nông Đức Mạnh; có người làm Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội như các đồng chí Tòng Thị Phóng, Đỗ Văn Chiến...

Từ những thế hệ ĐBQH là người DTTS khóa đầu tiên cho đến những thế hệ ĐBQH là người DTTS trẻ nhưng đã tham gia dẫn dắt nhiều hoạt động của Quốc hội, tất cả đều toát lên tinh thần tận tụy vì dân, vì sự no ấm, hạnh phúc của đồng bào; vì độc lập, tự do và thịnh vượng của Tổ quốc...

Bài 1: Từ bản đá, bản mây đến nghị trường Quốc hội

Từ bản làng cheo leo đá tai mèo nơi cực Bắc Hà Giang đến miền rừng núi thâm sơn cùng cốc của Lai Châu, có những con người bước ra từ gian khó, nỗ lực phấn đấu trở thành đại biểu của nhân dân trong nghị trường Quốc hội. Hành trình của Vừ Mí Kẻ-người chăn ngựa trên cao nguyên đá và Lỳ Khai Phà-cậu bé Hà Nhì làm liên lạc cho bộ đội, là những câu chuyện giản dị mà cảm động về niềm tin của đồng bào DTTS vùng phên giậu với Đảng, với đất nước.

Người “mã phài” cực Bắc trở thành “nghị sĩ”

Một buổi chiều muộn dăm năm trước, ở cao nguyên đá Đồng Văn, cụ Vừ Mí Kẻ ngồi lặng nhìn ra phía những dãy núi đá tai mèo xám bạc. Gió từ khe núi thổi qua sân nhà, hun hút như mang theo cả những ký ức xa xôi của một đời người, cụ kể: “Tôi tên là Vừ Mí Kẻ, sinh năm 1929 tại Sà Phìn, Đồng Văn, Hà Giang. Mồ côi cha từ sớm nên 10 tuổi tôi đã đi ở, chăn ngựa (mã phài) cho nhà cụ Vương Chí Sình. Người Mông ở Đồng Văn lúc ấy khổ lắm, chỉ ai có bạc trắng, thuốc phiện nhiều thì mới no cái bụng, ấm cái thân... Những người còn lại đi làm phu, làm nô bộc cho nhà quan hết. Đói quanh năm, khổ hơn con trâu, con ngựa...”. Những ngày dài theo đàn ngựa men theo sườn đá, cậu bé Mông nhỏ thó lặng lẽ đi giữa gió núi và mây trời. Cuộc đời tưởng như đã an bài nơi những triền đá xám ấy. Nhưng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm đổi thay số phận của biết bao con người vùng cao. Thời thế đổi thay, Vừ Mí Kẻ đi theo cách mạng rồi trở thành người của Đảng. Khi 32 tuổi, ông đã được giao làm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Đồng Văn (khi đó gồm cả Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ). Năm 1960, nước ta bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II, Hà Giang có hai người trúng cử là Vương Chí Sình và Vừ Mí Kẻ. Hai con người, hai thân phận khác nhau từ đó đều trở thành ĐBQH. Lúc này Vừ Mí Kẻ đại diện cho cả vạn đồng bào vùng cao nguyên đá cho tới tận hết nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII (năm 1987). Ông là ĐBQH 6 khóa, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tuyên hơn 20 năm.

Đại biểu Quốc hội Vừ Mí Kẻ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh do gia đình cung cấp

Đại biểu Quốc hội Vừ Mí Kẻ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh do gia đình cung cấp

Ông Kẻ nhớ lại: “Bầu cử Quốc hội ngày ấy, nhiều người không biết chữ phải dùng ống tre và hạt ngô để hướng dẫn đồng bào bỏ cho đại biểu. Ai được dân bầu là vinh dự, là tự hào và trọng trách lớn lắm. Ngày đó giao thông khó khăn, có lần tôi đi bộ hơn 10 ngày từ huyện Đồng Văn về Hà Nội dự họp, mà đi chân đất chẳng có giày. Mỗi năm, Quốc hội họp 2 kỳ, mỗi kỳ chỉ làm việc khoảng 7 ngày nên ai cũng trách nhiệm và ý thức cao lắm. Ngồi họp là tập trung cao độ, nghỉ giải lao ra ngoài mấy phút là chỉ được đi đúng mấy phút”.

Ông Lỳ Khai Phà (ngoài cùng bên trái) trong một chuyến công tác tiếp xúc cử tri tại Lai Châu. Ảnh do gia đình cung cấp

Ông Lỳ Khai Phà (ngoài cùng bên trái) trong một chuyến công tác tiếp xúc cử tri tại Lai Châu. Ảnh do gia đình cung cấp

Giai đoạn ông Vừ Mí Kẻ làm ĐBQH và công tác ở Đồng Văn gắn với một trong những trang bi tráng, hào hùng nhất của vùng đất này. Năm 1959, Trung ương chủ trương mở đường Hạnh Phúc nối thị xã Hà Giang lên vùng cao nguyên đá. Cũng từ đây nạn thổ phỉ nổi lên, hoành hành vô cùng tàn ác, ông Vừ Mí Kẻ được Trung ương giao nhiệm vụ vừa tham gia chỉ huy công trường làm đường, vừa vận động bà con góp công, góp sức, vừa nắm bắt thông tin cùng các lực lượng tiễu phỉ. Tháng 10-1961, ông được phân công đảm nhiệm nhiệm vụ chủ tọa phiên tòa xét xử vụ loạn phỉ, năm 1964 đường Hạnh Phúc thông tới Đồng Văn, năm 1966 thông tới Mèo Vạc.

Gần 30 năm làm ĐBQH, đến năm 1989 về nghỉ hưu, ông chỉ có tài sản duy nhất là chiếc xe đạp Thống Nhất được Nhà nước cấp. Ông Vừ Mí Kẻ vẫn nói với con cháu, thời ông làm ĐBQH chỉ biết nghĩ cố gắng làm sao cho hết sức mình, việc gì có ích cho dân thì gắng công mà thực hiện. Ông luôn tâm niệm lời Bác Hồ dạy: Làm cán bộ không phải để làm quan mà để làm người đầy tớ trung thành của nhân dân. Người ĐBQH miền đá trời cực Bắc ấy khuất núi năm 2024 trong muôn vàn tiếc thương và tình cảm của đồng bào Hà Giang-Tuyên Quang.

Cụ Vừ Mí Kẻ trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, năm 2023. Ảnh: HÀ THANH

Cụ Vừ Mí Kẻ trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, năm 2023. Ảnh: HÀ THANH

Chàng trai Hà Nhì là đại biểu của nhân dân

Lỳ Khai Phà là người dân tộc Hà Nhì, sinh vào mùa hoa cúc quỳ (tháng 12-1947) tại xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, trong gia đình nông dân nghèo. Năm 1954, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, mẹ của Phà về làm công tác phụ nữ tại Mường Tè. Phà đi theo mẹ và được các chú bộ đội trong cơ quan mẹ bố trí làm liên lạc, coi ngựa. Năm 1958, nhận thấy sự nhanh nhẹn, hoạt bát của Lỳ Khai Phà, chỉ huy cơ quan quyết định cho cậu đi học. Hết cấp 3, Lỳ Khai Phà được gửi xuống học tại Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc ở Thái Nguyên. Năm 1972 ra trường, Lỳ Khai Phà về công tác tại Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Lai Châu. Bắt đầu từ đây, Lỳ Khai Phà trải qua nhiều lĩnh vực công tác khác nhau như: Hiệu trưởng Trường Dân tộc nội trú tỉnh, Phó giám đốc Sở Giáo dục, tham gia HĐND tỉnh từ khóa V đến khóa XI...

Ông Lỳ Khai Phà và vợ hiện tại sinh sống tại Điện Biên. Ảnh: HÀ THANH

Ông Lỳ Khai Phà và vợ hiện tại sinh sống tại Điện Biên. Ảnh: HÀ THANH

Năm 1997, tại kỳ bầu cử Quốc hội khóa X, ông Lỳ Khai Phà, khi đó đang là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lai Châu, đã được giới thiệu, bầu và trúng cử ĐBQH. Vậy là gần 40 năm sau ngày rời quê hương Mường Tè để đi học, cậu bé Hà Nhì ở Mù Cả năm nào chính thức bước chân vào nghị trường Quốc hội.

Ông Phà bồi hồi kể: “Sau này, tôi đã trải qua các cương vị là Phó trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách, Chủ tịch HĐND, rồi Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu. Trong quá trình tham gia đại biểu HĐND tỉnh và ĐBQH, tôi đều được phân công ứng cử ở những huyện xa xôi, khó khăn, gian khổ nhất của tỉnh thời bấy giờ như: Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ. Ở những vùng đó, đồng bào còn rất nghèo, trình độ dân trí thấp, địa bàn rộng, phức tạp, dân cư thưa thớt, núi non hiểm trở... Các cuộc bầu cử đại biểu HĐND và ĐBQH nhiều lần vào mùa mưa, miền núi thường sạt lở đất và lũ quét. Rất nhiều xã, bản bị cô lập hàng tuần, Nhà nước phải tổ chức tiếp tế hàng hóa, thuốc men bằng máy bay trực thăng. Chính vì thế, ở Lai Châu, nhiều địa bàn đã được Ủy ban Bầu cử quốc gia cho phép tiến hành bầu cử trước cả tuần để kịp với tiến độ chung của cả nước. Mặc dù khó khăn như vậy nhưng đồng bào các dân tộc vẫn đi bầu cử đúng thời gian quy định, với số lượng cao.

Nhìn lại chặng đường đã qua, ông Lỳ Khai Phà xúc động: “Cuộc đời tôi được tham gia đại biểu 2 kỳ Quốc hội khóa X và XI. Nay dù nghỉ hưu đã lâu, tôi vẫn đau đáu một điều, làm sao cho nhân dân các dân tộc vùng cao biên giới có cuộc sống tốt đẹp hơn, thoát được đói nghèo, vươn lên sung túc, no đủ. Đồng bào các dân tộc là những con người thật thà, chất phác, có lòng tự trọng cao, muốn được họ tin yêu và làm theo, trước hết phải tôn trọng, gần gũi chân thành với họ như anh em một nhà. Nếu cán bộ là người cùng dân tộc, hoặc cán bộ dưới xuôi nhưng phải biết tiếng dân tộc, thì làm công tác dân vận sẽ thuận lợi hơn. Chúng ta phải làm cho họ thấy được vai trò của mình trong việc gìn giữ đất đai, biên cương của Tổ quốc. Khi họ chưa hiểu thì phải kiên trì thuyết phục, cảm hóa, không được dùng uy quyền để bắt họ làm theo”.

Từ bản đá trên cao nguyên Đồng Văn đến bản mây nơi thượng nguồn sông Đà, những con người như ông Vừ Mí Kẻ và ông Lỳ Khai Phà đã đi một hành trình dài. Từ những phận đời nhỏ bé giữa đại ngàn biên cương, họ bước vào nghị trường Quốc hội, mang theo tiếng nói và niềm tin của đồng bào các dân tộc biên giới-những người ngày đêm gìn giữ phên giậu thiêng liêng của Tổ quốc.

(còn nữa)

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xvi/tieng-noi-cua-long-dan-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-giua-nghi-truong-bai-1-tu-ban-da-ban-may-den-nghi-truong-quoc-hoi-1029848