Tiếng vó ngựa trong từng thớ đá

Xin được nói ngay - Tiếng vó ngựa trong từng thớ đá - là cách tôi nói văn vẻ về một góc trong nghệ thuật điêu khắc Chăm.

Cá nhân tôi do nghề nghiệp và sâu xa do ký ức trầm tích nhiều lớp về hình tượng này, luôn nghe thấy từ đây rất nhiều hình ảnh, đường nét, màu sắc và cả âm thanh; như thiên binh vạn mã đang rùng rùng trong từng thớ đá. Nếu thử dõi theo, tin là bạn sẽ không cho rằng đó là nói quá!

Ngựa và những lớp nghĩa, hàm ý riêng

Khi nhắc đến hệ thống hình tượng quen thuộc trong văn hóa Champa, đặc biệt là ở nghệ thuật điêu khắc, người ta thường nghĩ ngay đến thần Shiva, các vị thần trong Ấn Độ giáo, vũ nữ Apsara, cùng những linh vật mang tính biểu trưng cao như Garuda, Naga, Makara, Ganesa...

Đây là những hình tượng xuất hiện dày đặc, giữ vị trí trung tâm trong bố cục kiến trúc và trang trí, phản ánh rõ thế giới thần linh và vũ trụ quan của người Chăm cổ.

 Tháp Dương Long (niên đại cuối thế kỷ XII) là cụm di tích gồm ba tháp cổ Champa thẳng hàng trên một gò cao thuộc xã Bình An, được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2015. Ảnh: Nguyễn Gia

Tháp Dương Long (niên đại cuối thế kỷ XII) là cụm di tích gồm ba tháp cổ Champa thẳng hàng trên một gò cao thuộc xã Bình An, được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2015. Ảnh: Nguyễn Gia

Giữa hệ thống hình tượng ấy, con ngựa xuất hiện khá hiếm. Không được thánh hóa như voi, không mang chức năng hộ pháp như Garuda hay Naga, trong nghệ thuật Chăm, hình tượng ngựa thường không nằm ở vị trí trung tâm, mà chỉ xuất hiện ở bệ tượng, vành đài thờ hoặc trong các mảng kể chuyện mang tính phụ trợ.

Nhưng cũng chính vì thế, ngựa xuất hiện có chọn lọc với mức độ cao khiến mỗi lần xuất hiện đều mang theo những lớp nghĩa, hàm ý riêng, gắn với các bối cảnh cụ thể mà các hình tượng khác đôi khi không có được, như chiến tranh, nghi lễ, sử thi hay chuyển hóa tâm linh.

 Bệ thờ tại Phật viện Đồng Dương niên đại khoảng cuối thế kỷ IX (ảnh tư liệu của tác giả)

Bệ thờ tại Phật viện Đồng Dương niên đại khoảng cuối thế kỷ IX (ảnh tư liệu của tác giả)

Tại đất Bình Định, sự hiếm hoi ấy còn trở nên rõ nét hơn. So với các trung tâm lớn như Trà Kiệu, Đồng Dương hay Mỹ Sơn, hình tượng ngựa trong điêu khắc Chăm Bình Định gần như vắng bóng. Vì vậy, mỗi tác phẩm có ngựa được phát hiện tại đây đều mang giá trị cực kỳ đặc biệt, không chỉ về mặt tạo hình mà còn về mặt tư tưởng.

Dấu ấn Bình Định - Ngựa chiến trong sử thi Mahabharata

Tiêu biểu nhất là một mảng chạm sa thạch có niên đại khoảng cuối thế kỷ XI, phát hiện tại Bình Định, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, thể hiện một trích đoạn trong sử thi Ấn Độ Mahabharata.

Tác phẩm mô tả 3 cỗ xe song mã đang rượt đuổi nhau giữa chiến trường, tạo nên một trong những cảnh động và kịch tính nhất của nghệ thuật Chăm.

 Phù điêu Ngựa chiến (niên đại khoảng cuối thế kỷ XI, phong cách Tháp Mẫm sớm) tìm thấy ở tại thành Bình Định (phường An Nhơn) - nơi xưa kia là trung tâm chính trị và văn hóa của vương quốc Champa từ thế kỷ XI đến XV (ảnh tư liệu của tác giả).

Phù điêu Ngựa chiến (niên đại khoảng cuối thế kỷ XI, phong cách Tháp Mẫm sớm) tìm thấy ở tại thành Bình Định (phường An Nhơn) - nơi xưa kia là trung tâm chính trị và văn hóa của vương quốc Champa từ thế kỷ XI đến XV (ảnh tư liệu của tác giả).

Những con ngựa trong mảng chạm này mang dáng vẻ rất khác với nhiều hình tượng ngựa Chăm khác. Thân ngựa thon dài, cổ vươn mạnh, chân dài khỏe, được thể hiện trong trạng thái phi nước đại rõ rệt, kéo theo những cỗ chiến xa nặng nề.

Trên cỗ xe phía sau, một chiến binh đứng thẳng giương cung bắn về phía trước. Trên cỗ xe phía trước, một nhân vật nằm dài, thân thể buông xuôi, gợi khoảnh khắc bi kịch của chiến tranh sử thi.

Ở đây, ngựa không còn là chi tiết phụ trợ, mà trở thành lực đẩy chính của câu chuyện. Nhịp vó ngựa dẫn dắt toàn bộ bố cục, kéo theo cao trào truy đuổi, mũi tên rời dây cung và số phận con người.

Đây là một trong những trường hợp hiếm hoi trong nghệ thuật Chăm mà hình tượng ngựa giữ vai trò trung tâm về mặt chuyển động và kịch tính - xin được nhấn mạnh.

So sánh với các trung tâm Chăm khác

Khi đặt mảng chạm Mahabharata của Bình Định bên cạnh các hình tượng ngựa ở những trung tâm Chăm khác, sự khác biệt trở nên rõ ràng.

Tại Trà Kiệu, trong trích đoạn Ramayana trên đài thờ (nửa sau thế kỷ X), Hoàng tử Rama dẫn đoàn người đi cầu hôn Công chúa Sita. Giữa đoàn người đông đảo, chỉ xuất hiện một con ngựa duy nhất - thân hình béo, lùn, cổ đeo lục lạc, bước đi chậm rãi - mang dáng vẻ ngựa nghi lễ, nhấn mạnh giá trị biểu trưng hơn là sức chiến đấu.

Cũng tại Trà Kiệu, trong nhóm tượng vũ nữ Apsara (thế kỷ VII - VIII), đầu một con ngựa chiến được đặt giữa hai vũ nữ mềm mại, như một ký hiệu nén của xung đột thần thoại.

Ở Đồng Dương, trung tâm Phật giáo lớn của Champa (cuối thế kỷ IX), con ngựa Kanthaka trong cảnh Thái tử Tất Đạt Đa xuất gia lại mang ý nghĩa chuyển hóa tâm linh, không phi nhanh, không chiến đấu.

Tại Khương Mỹ, ngựa gắn với cỗ xe thần Mặt Trời Surya, biểu trưng cho vũ trụ và thời gian. Ở Mỹ Sơn, ngựa là vật cưỡi của thần Gió Vayu, hiện thân của lực tự nhiên.

 Đài thờ Khương Mỹ là tác phẩm điêu khắc Champa quý giá, gắn liền với cụm tháp Khương Mỹ, niên đại thế kỷ IX - X tại xã Tam Xuân, TP. Đà Nẵng (ảnh tư liệu của tác giả).

Đài thờ Khương Mỹ là tác phẩm điêu khắc Champa quý giá, gắn liền với cụm tháp Khương Mỹ, niên đại thế kỷ IX - X tại xã Tam Xuân, TP. Đà Nẵng (ảnh tư liệu của tác giả).

Nhìn rộng hơn, có thể thấy sự khác biệt của hình tượng ngựa giữa các trung tâm Chăm không chỉ là vấn đề tạo hình, mà còn phản ánh tính chất lịch sử và không gian văn hóa của từng vùng.

Ở những trung tâm sớm như Trà Kiệu hay Đồng Dương, ngựa xuất hiện tiết chế, thiên về biểu trưng, phục vụ nghi lễ, tôn giáo và kể chuyện thần thoại. Đến Mỹ Sơn hay Khương Mỹ, ngựa được đặt trong mối quan hệ với vũ trụ và lực tự nhiên.

Trong khi đó, ngựa Bình Định trong mảng chạm Mahabharata được đặt trọn vẹn vào không gian chiến tranh và anh hùng ca. Ngựa ở đây không mang tính nghi lễ, không thiên về biểu trưng vũ trụ, không gắn với chuyển hóa tâm linh, mà là ngựa chiến thực thụ, kéo chiến xa, lao vào truy đuổi và đối đầu. Chính sự lựa chọn ấy khiến ngựa Bình Định để lại dấu ấn sâu đậm, như một tiếng vó được dồn nén trong từng thớ đá.

Trầm tích tiếng vó ngựa

Sự xuất hiện đậm nét của đề tài Mahabharata và hình tượng ngựa chiến tại Bình Định không phải ngẫu nhiên. Từ thế kỷ XI, vùng đất này là một trung tâm chính trị - quân sự quan trọng của Champa.

Trong bối cảnh ấy, sử thi với những câu chuyện về chiến tranh, danh dự và định mệnh trở thành ngôn ngữ tạo hình phù hợp. Trong chiều dài lịch sử, từ ngựa chiến trong sử thi cổ xưa đến tinh thần thượng võ của Bình Định về sau, dường như tồn tại một mạch ngầm liên tục trên những trầm tích văn hóa lặng lẽ bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Chính trong sự hiếm hoi, hình tượng ngựa ở Bình Định lại hiện lên với vai trò mạnh mẽ và trực diện nhất trong nghệ thuật Chăm. Điều này cho thấy - hình tượng không cần xuất hiện nhiều để trở nên quan trọng.

Khi được đặt đúng bối cảnh, con ngựa - dù không giữ vị trí trung tâm trong hệ thống biểu tượng - vẫn có thể mang một sức nặng đặc biệt, đủ để đại diện cho tinh thần chiến tranh, hào khí sử thi và bản sắc của cả một vùng đất.

***

Giữa ngày xuân, khi con người nhìn lại căn cước văn hóa nơi mình đang sống, tiếng vó ngựa chạm trong đá sa thạch Chăm ở Bình Định vẫn như còn vang vọng - lặng lẽ nhưng bền bỉ - như một lời nhắc rằng - trước khi là đất Võ của hôm nay, nghìn năm trước Bình Định đã từng là đất của sử thi dữ dội, hoành tráng.

LÊ TRỌNG NGHĨA

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/tieng-vo-ngua-trong-tung-tho-da-post580050.html