Tiết kiệm điện: Từ trách nhiệm mùa cao điểm đến thói quen hằng ngày
Một chiếc điều hòa đặt nhiệt độ mát phù hợp, một thiết bị được tắt khi không sử dụng hay thói quen theo dõi điện năng hằng ngày có thể tạo ra tác động lớn hơn nhiều so với khoản tiền tiết kiệm trên hóa đơn của người sử dụng. Tại tọa đàm 'Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp' do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức sáng 22/6, các đại biểu cho rằng sử dụng điện hiệu quả không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới.

Tọa đàm "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp" - Ảnh: VGP/Đức Tuân
Áp lực mới với hệ thống điện quốc gia
Tại tọa đàm, ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết công suất cực đại của hệ thống điện thời gian gần đây đã vượt 58.000 MW và sản lượng điện có những ngày đạt trên 1 tỷ kWh. Đây là mức tiêu thụ rất lớn, phản ánh quá trình phát triển của nền kinh tế. Khi kinh tế tăng trưởng, nhu cầu điện năng cho sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội cũng gia tăng tương ứng.
Theo ông Đặng Hải Dũng, trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, cùng việc triển khai các dự án trên phạm vi cả nước, nhu cầu năng lượng và điện năng được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, áp lực đối với hệ thống điện không chỉ đến từ phía nhu cầu. Những bất ổn địa chính trị có thể tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng năng lượng; biến động về giá điện, than, dầu và khí có thể khiến chi phí năng lượng tăng từ 15-20%, thậm chí cao hơn, tạo áp lực lớn lên sản xuất kinh doanh và nền kinh tế.

Ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bô Công Thương) tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Đức Tuân
Bên cạnh đó, các yêu cầu mới về thuế xanh, giảm phát thải carbon, CBAM hay Green Deal tại các thị trường xuất khẩu lớn đang đặt ra yêu cầu hệ thống điện phải có hệ số phát thải ngày càng thấp. Điều này buộc Việt Nam gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo, trong khi công tác dự báo, vận hành hệ thống cũng phức tạp hơn do phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết.
Ở góc độ doanh nghiệp điện lực, ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cho biết biến động của thị trường thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ cũng như giá nhiên liệu đầu vào cho phát điện. Ngay từ tháng 3/2026, EVN đã chỉ đạo các đơn vị phát điện phối hợp với đơn vị cung cấp than, khí điều chỉnh kế hoạch cung cấp nhiên liệu. Trong giai đoạn nắng nóng vừa qua, than và khí vẫn bảo đảm cho phát điện.
Tuy nhiên, để bảo đảm cung ứng điện, không chỉ cần nhiên liệu mà còn cần độ sẵn sàng của các nhà máy phát điện. Hiện EVN và các nhà máy của EVN chỉ chiếm khoảng 37% về phần nguồn, vì vậy cần sự vào cuộc đồng bộ của tất cả các đơn vị phát điện trong hệ thống.
Từ góc nhìn doanh nghiệp công nghệ và quản lý năng lượng, ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Schneider Electric Việt Nam và Campuchia, nhấn mạnh nguồn điện ổn định là nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế, là hạ tầng cốt lõi để bảo đảm sản xuất liên tục. Với những ngành thâm dụng năng lượng như trung tâm dữ liệu, công nghiệp nặng, khai thác, sản xuất thực phẩm, điện tử và bán dẫn, một gián đoạn nhỏ về điện cũng có thể gây tổn thất rất lớn. Theo ông, năng lượng không chỉ là điều kiện vận hành, mà còn là yếu tố cạnh tranh quốc gia, nhất là khi nhà đầu tư ngày càng quan tâm tới nguồn năng lượng xanh, sạch và ổn định.

Ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Schneider Electric Việt Nam và Campuchia - Ảnh: VGP/Đức Tuân
Tiết kiệm điện không chỉ để giảm hóa đơn của người sử dụng
Nhu cầu điện của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng, trong khi đầu tư nguồn điện mới luôn cần thời gian, vốn lớn và sự phối hợp của nhiều chủ thể. Vì vậy, tiết kiệm điện không chỉ là biện pháp ứng phó trước mắt vào mùa nắng nóng, mà đang được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược trong bảo đảm an ninh năng lượng.
Ông Đặng Hải Dũng cho biết sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những chiến lược quan trọng trong thời gian tới. Việt Nam đã ban hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả lần đầu từ năm 2010; đến năm 2025, Quốc hội thông qua luật sửa đổi, bổ sung, qua đó định hình hoạt động tiết kiệm năng lượng và tiết kiệm điện là nội dung trọng tâm trong phát triển kinh tế.
Nếu giai đoạn đầu, chính sách chủ yếu mang tính khuyến khích, vận động, thì giai đoạn hiện nay đã chuyển mạnh sang tăng cường quản lý năng lượng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Chính phủ yêu cầu các đối tượng liên quan xây dựng kế hoạch, đặt KPI, chỉ tiêu về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và định mức tiêu hao năng lượng trong sản xuất; đồng thời nâng dần tiêu chuẩn, quy chuẩn, nhất là khi các thị trường lớn áp dụng thuế carbon, ESG, hàng rào xanh và các yêu cầu về phát triển bền vững.
Bộ Công Thương cũng đang thúc đẩy quản lý nhu cầu điện, hỗ trợ doanh nghiệp kiểm toán năng lượng để nhận diện lãng phí và tiềm năng tiết kiệm, xây dựng mạng lưới chuyên gia, tư vấn năng lượng để kết nối doanh nghiệp với các đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ. Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật, dự thảo Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang được xây dựng nhằm tạo công cụ hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khi thay đổi, nâng cấp công nghệ.
Ở góc nhìn ngành điện, ông Ngô Sơn Hải cho rằng tiết kiệm điện không chỉ đơn thuần là giảm chi phí tiền điện, mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Với tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện hiện nay, mỗi năm hệ thống điện quốc gia cần bổ sung khoảng 4.000-5.000 MW công suất mới. Để bổ sung 1.000 MW từ các dự án điện gió ngoài khơi hoặc điện khí LNG, sau khi hoàn tất thủ tục, cũng phải mất 3-4 năm để đưa vào vận hành.

Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Ngô Sơn Hải - Ảnh: VGP/Đức Tuân
Trong khi đó, nếu tiết kiệm được khoảng 2% công suất tiêu thụ, hệ thống đã tương đương với việc giảm nhu cầu đầu tư khoảng 1.000 MW. Con số này cho thấy tiết kiệm điện là giải pháp nhanh, hiệu quả và ít tốn kém hơn nhiều so với đầu tư thêm nguồn điện mới. Mỗi kWh điện tiết kiệm được không chỉ giúp giảm chi phí cho người sử dụng, mà còn làm giảm chi phí chung của toàn xã hội, nhất là khi hệ thống phải huy động các nguồn điện có chi phí cao hơn để đáp ứng phụ tải tăng.
Tuy nhiên, theo ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh, để tiết kiệm điện thực sự trở thành văn hóa, vẫn còn nhiều rào cản phải vượt qua. Với doanh nghiệp, nhận thức về tiết kiệm điện đã cải thiện rõ, bởi đây là câu chuyện tác động trực tiếp đến chi phí, lợi nhuận và rủi ro sản xuất. Nhưng ở khu vực hộ tiêu thụ dân cư, chiếm khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ điện, nhận thức vẫn còn nhiều vấn đề.
Một trong những rào cản là tư duy “có tiền thì có quyền dùng nhiều”, trong khi người tiêu dùng chưa thấy hết tác động của việc sử dụng điện vượt ngưỡng đối với chi phí đầu tư và vận hành toàn hệ thống. Một rào cản khác là tâm lý “dùng nhiều thì phải rẻ”, trong khi điện là loại hàng hóa đặc biệt, mỗi kWh điện cắt giảm được vào thời điểm hệ thống căng thẳng có giá trị rất lớn. Ngoài ra, cơ chế tài chính cho điều chỉnh phụ tải còn thiếu; thói quen lựa chọn thiết bị giá rẻ, hiệu suất thấp vẫn tồn tại; và nhiều người dân, doanh nghiệp chưa có thói quen đo đếm, theo dõi số liệu tiêu thụ điện.
Từ thay đổi thói quen đến quản trị năng lượng thông minh
Một điểm đáng chú ý tại tọa đàm là các diễn giả đều cho rằng tiết kiệm điện không có nghĩa là ngừng sử dụng hay giảm tiêu thụ một cách máy móc. Vấn đề quan trọng hơn là sử dụng điện thông minh hơn, hiệu quả hơn, thông qua thay đổi hành vi, lựa chọn thiết bị phù hợp, đo đếm dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong quản trị năng lượng.
Rõ ràng doanh nghiệp không thể ngừng sản xuất, người dân không thể ngừng sinh hoạt hay hoặc giảm tiêu thụ một cách máy móc. Câu hỏi cần đặt ra là làm thế nào để vẫn sử dụng điện, nhưng sử dụng tốt hơn, với hiệu suất cao hơn và ý thức tốt hơn. Theo ông Đặng Nguyễn Ngữ, tiết kiệm điện đến từ tối ưu hóa việc sử dụng điện ở mỗi hộ gia đình, mỗi tòa nhà, mỗi nhà máy và trên bình diện cả quốc gia. Trong thời đại số hóa và trí tuệ nhân tạo, các công nghệ như Smart Home, Smart Building, Smart Factory, Smart Grid đang đi vào thực tế rất nhanh, giúp điều chỉnh tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực và quản lý tốt hơn các đỉnh tải.
Vì vậy, đầu tư cho tiết kiệm điện không còn nên được coi là “chi phí”, mà là một khoản đầu tư có thể đo đếm, tính toán hiệu quả và thời gian hoàn vốn. Việc thay thế thiết bị cũ bằng thiết bị hiệu suất cao là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều quan trọng là phải có tư duy hệ thống, quản lý dữ liệu qua số hóa và tối ưu hóa vận hành theo thời gian thực.

Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh - Ảnh: VGP/Minh Khôi
Cùng quan điểm này, ông Hà Đăng Sơn cho rằng chuyển đổi số vừa tạo thêm phụ tải mới, như trung tâm dữ liệu và AI, vừa là công cụ quan trọng để tối ưu hóa hệ thống. Các công cụ số có thể được ứng dụng ngay từ khâu thiết kế, chẳng hạn hệ thống Building Information Modeling (BIM) giúp mô phỏng tòa nhà và tối ưu tiêu dùng năng lượng từ đầu. Một số chuyên gia quốc tế chia sẻ, nếu tối ưu ngay từ khâu thiết kế và lựa chọn thiết bị, mức tiêu thụ năng lượng của các tòa nhà công sở hoặc thương mại có thể giảm khoảng 40-60%.
Ở góc độ ngành điện, ông Ngô Sơn Hải cho biết EVN đã triển khai chuyển đổi số ở tất cả các khâu từ phát điện, truyền tải, phân phối đến chăm sóc khách hàng. Hiện các trạm điện 110 kV, 220 kV, 500 kV không có người trực mà được tự động điều khiển; toàn bộ hệ thống trên lưới truyền tải, lưới phân phối gần như tự động. Nhờ đó, tổn thất điện năng trong truyền tải và phân phối đã giảm từ 8% xuống còn 6% sau 10 năm, từ năm 2015 đến nay.
Đối với khách hàng, EVN hiện có khoảng 32 triệu khách hàng qua các hệ thống công tơ đo đếm; 99,9% công tơ là công tơ điện tử, có kho dữ liệu tập trung và thu thập dữ liệu từ xa. Trong tháng 6, EVN triển khai ứng dụng chăm sóc khách hàng chung cho toàn tập đoàn, giúp người dân và doanh nghiệp theo dõi việc sử dụng điện theo mã khách hàng, đồng thời có thể đặt ngưỡng cảnh báo để điều chỉnh hành vi tiêu dùng điện.
Bên cạnh các giải pháp công nghệ, các khuyến nghị gần gũi với người dân trong mùa nắng nóng vẫn có ý nghĩa rất lớn. Ví dụ, điều hòa là thiết bị tiêu thụ điện năng lớn nhất trong nhiều hộ gia đình, vì vậy người dân nên cài đặt nhiệt độ khoảng 26 độ C, đóng kín cửa để hạn chế thất thoát hơi lạnh, kiểm tra và vệ sinh điều hòa định kỳ. Người dân và doanh nghiệp cũng nên hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị công suất lớn trong khung giờ cao điểm mùa hè, thường kéo dài từ khoảng 18h đến 22h-23h; đồng thời ưu tiên lựa chọn thiết bị có hiệu suất năng lượng cao.
Cần một “nhạc trưởng” để biến chiến lược thành hành động
Để tiết kiệm điện không dừng lại ở khẩu hiệu, các ý kiến tại tọa đàm cho rằng cần đồng thời có chính sách, công cụ tài chính, giải pháp công nghệ và cơ chế điều phối đủ mạnh. Trong đó, doanh nghiệp là khu vực có nhiều tiềm năng tiết kiệm, nhưng cũng gặp không ít khó khăn khi phải thay đổi dây chuyền công nghệ, đầu tư thiết bị mới hoặc triển khai hệ thống quản lý năng lượng thông minh.
Theo ông Đặng Hải Dũng, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã mở ra khuôn khổ pháp lý cho các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh; nhiều ngân hàng thương mại cũng đã có dòng tài chính xanh cho doanh nghiệp tiếp cận. Cùng với đó, Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được kỳ vọng hình thành, vận hành vào cuối năm, tạo cơ sở thúc đẩy mô hình công ty dịch vụ năng lượng (ESCO), hỗ trợ doanh nghiệp về tài chính, kỹ thuật và đào tạo nhân lực.
Từ phía doanh nghiệp công nghệ, ông Đặng Nguyễn Ngữ cho rằng hiện nay vốn không thiếu, công nghệ cũng không thiếu. Nhiều định chế tài chính, ngân hàng muốn cho vay các dự án xanh, trong khi các công ty công nghệ đã có giải pháp AI, IoT và quản lý năng lượng theo thời gian thực. Vấn đề là cần một cơ chế điều phối để kết nối nguồn vốn, công nghệ và người sử dụng cuối; nói cách khác, cần một “nhạc trưởng” để các nguồn lực không bị phân mảnh.
Khép lại tọa đàm, các khách mời đều nhấn mạnh tiết kiệm điện phải trở thành trách nhiệm chung. Ông Đặng Hải Dũng cho rằng tiết kiệm năng lượng đã là xu thế bắt buộc khi các thị trường đều đặt ra yêu cầu bằng chính sách thuế, hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải và các tiêu chuẩn mới. Vì Việt Nam đã nằm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, tiết kiệm năng lượng không chỉ phục vụ an ninh năng lượng, mà còn gắn với năng lực cạnh tranh trong giao thương quốc tế.
Ông Ngô Sơn Hải bày tỏ mong muốn nhận thức về tiết kiệm điện trở thành trách nhiệm, ý thức và hơn nữa là văn hóa đối với từng gia đình, cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng. Ông Hà Đăng Sơn khuyến nghị mỗi người dân nên cài ứng dụng để theo dõi mức dùng điện hằng ngày, hằng tháng; đặt điều hòa ở mức phù hợp, khoảng 26 độ C, kết hợp dùng quạt; kiểm soát bức xạ nhiệt vào phòng bằng rèm che, rèm chắn nắng; nếu có điều kiện có thể lắp điện mặt trời mái nhà kết hợp pin lưu trữ theo tinh thần Chỉ thị 20/CT-TTg.
Từ những trao đổi tại tọa đàm, có thể thấy bảo đảm điện cho phát triển nhanh và bền vững không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành điện. Cùng với phát triển thêm nguồn điện sạch, nâng cấp hạ tầng và hiện đại hóa lưới điện, sử dụng điện hiệu quả phải trở thành hành động thường xuyên của từng cơ quan, doanh nghiệp, hộ gia đình và mỗi người dân. Mỗi kWh điện được sử dụng hiệu quả hôm nay là một đóng góp cho an ninh năng lượng, năng lực cạnh tranh và phát triển xanh của đất nước.












