Tiêu chí xác định người nộp thuế rủi ro cao về hóa đơn điện tử
Lần đầu tiên tiêu chí xác định người nộp thuế có rủi ro cao trong đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử được quy định cụ thể tại Thông tư số 91/2026/TT-BTC vừa được Bộ Tài chính ban hành. Đây được xem là bước hoàn thiện quan trọng trong quản lý rủi ro, đưa việc kiểm soát hóa đơn điện tử tiến thêm một bước từ 'xử lý sau vi phạm' sang 'phòng ngừa ngay từ đầu'.

Thông tư 91/2026/TT-BTC đã xác định rõ 5 nhóm dấu hiệu để nhận diện người nộp thuế có rủi ro cao khi đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử - Ảnh minh họa
Trong nhiều năm qua, hóa đơn điện tử đã trở thành công cụ quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý thuế. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích mang lại, tình trạng lợi dụng doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp không hoạt động thực tế để mua bán hóa đơn, hợp thức hóa chi phí, chiếm đoạt tiền hoàn thuế vẫn diễn ra.
Tuy nhiên, tình trạng có thể được kiểm soát tốt hơn trong thời gian tới. Bởi một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư số 91/2026/TT-BTC quy định một số điều của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Nghị định số 254/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử là lần đầu tiên đưa ra quy định tương đối đầy đủ tiêu chí xác định người nộp thuế có rủi ro cao trong đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Đây được xem là bước hoàn thiện quan trọng trong quản lý rủi ro, đưa việc kiểm soát hóa đơn điện tử tiến thêm một bước từ “xử lý sau vi phạm” sang “phòng ngừa ngay từ đầu”.
Theo đó, Thông tư 91/2026/TT-BTC đã xác định rõ 5 nhóm dấu hiệu để nhận diện người nộp thuế có rủi ro cao khi đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Nhóm thứ nhất là các trường hợp có tiền sử hoặc liên quan đến hành vi gian lận về hóa đơn. Người nộp thuế có chủ sở hữu hoặc người đại diện theo pháp luật từng có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về hành vi gian lận, mua bán hóa đơn sẽ thuộc diện phải xem xét rủi ro. Đây là tiêu chí mang tính kế thừa, nhằm ngăn chặn việc các đối tượng sau khi doanh nghiệp cũ bị xử lý tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới để thực hiện hành vi tương tự.
Nhóm thứ hai liên quan đến phòng, chống rửa tiền. Người đại diện hoặc chủ sở hữu thuộc danh sách có giao dịch đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền cũng được đưa vào diện kiểm soát. Việc kết nối giữa quản lý thuế với quản lý phòng, chống rửa tiền cho thấy xu hướng chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng chặt chẽ, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro.
Nhóm thứ ba là dấu hiệu về địa chỉ đăng ký kinh doanh. Thông tư số 91/2026/TT-BTC quy định trường hợp người nộp thuế đăng ký trụ sở chính không có địa chỉ cụ thể theo địa giới hành chính hoặc đăng ký tại căn hộ chung cư không được phép sử dụng làm địa điểm kinh doanh thì sẽ được đưa vào diện đánh giá rủi ro, trừ trường hợp cá nhân kinh doanh.
Nhóm thứ tư là các trường hợp có mối liên hệ với doanh nghiệp vi phạm. Nếu người đại diện theo pháp luật hoặc chủ sở hữu đồng thời là người đại diện, chủ sở hữu của doanh nghiệp đang trong tình trạng ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký hoặc có hành vi vi phạm về thuế, hóa đơn thì cũng thuộc diện rủi ro cao.
Nhóm thứ năm là các dấu hiệu rủi ro khác do cơ quan Thuế xác định theo quy định về quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro trong quản lý thuế. Đây là quy định mang tính mở, cho phép cơ quan Thuế cập nhật các tiêu chí phù hợp với thực tiễn khi phương thức gian lận ngày càng thay đổi, tinh vi hơn.











