Tìm hiểu những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (tiếp theo và hết)
Vừa qua, Đảng ta đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tháng 1/2026). Đại hội có ý nghĩa lịch sử, diễn ra trong bối cảnh đặc biệt (bối cảnh quốc tế biến động nhanh, phức tạp, tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Ở trong nước, thành tựu phát triển đất nước qua 40 năm đổi mới và hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đảng ta đã và đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, nổi bật là cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia...); là sự tổng kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, đã lựa chọn con đường phát triển dài hạn, đúng đắn với mục tiêu rõ ràng cho đất nước, đồng thời đánh dấu những bước phát triển mới của Đảng về tư duy lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cụ thể:
Thứ nhất, đã bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục dẫn dắt đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Đây là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, vừa khẳng định sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, vừa thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng.
Lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng; xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng; xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Thứ hai, đã xác định và lựa chọn mô hình phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; bảo vệ môi trường cũng trở thành một trụ cột để xác lập mô hình tăng trưởng mới(3).
Mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã bộc lộ giới hạn. Vừa qua, Bộ Chính trị dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã ban hành bốn Nghị quyết chiến lược (hay còn gọi là “Bộ tứ trụ cột”)(4) và một số nghị quyết chiến lược khác, nhằm tạo nền tảng giúp đất nước cất cánh, tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, hiện thực hóa mục tiêu và khát vọng phát triển Việt Nam đến năm 2030 và năm 2045.
Cụ thể: đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, đã xác định rõ hơn vai trò các thành phần kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhất là, xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng.
Việc đặt kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là tiếp cận có tầm chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo mạnh mẽ và linh hoạt trước biến động thị trường, trở thành nơi thu hút chủ yếu lao động xã hội, nguồn cung cấp đa dạng hàng hóa, dịch vụ và giải pháp công nghệ.
Các khu vực kinh tế đều được phát huy đầy đủ chức năng, vai trò trong nền kinh tế; mục tiêu nhằm khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế. Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng.
Thứ tư, bổ sung quan điểm “giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội”, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn cấp bách trong tiến trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sự phối hợp hiệu quả giữa ba chủ thể Nhà nước, thị trường và xã hội sẽ nâng cao tính minh bạch, khách quan và khả năng kiểm soát rủi ro, góp phần tối ưu hóa kết quả phân bố nguồn lực chung của nền kinh tế. Khẳng định vai trò quyết định của thị trường đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể kinh tế, đồng thời giảm thiểu sự can thiệp hành chính trực tiếp vào cơ chế vận hành tự nhiên của giá cả, của thị trường, của lợi ích và rủi ro.
Thị trường có chức năng xác định giá cả, huy động và phân bổ các nguồn lực theo tín hiệu cung-cầu tự nhiên. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều tiết hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển phù hợp với nguyên tắc và thực tiễn thị trường. Xã hội giữ vai trò giám sát, phản biện và hiến kế thông qua các tổ chức chính trị-xã hội, hiệp hội ngành nghề, đội ngũ trí thức và truyền thông.
Thứ năm, nhấn mạnh yêu cầu “đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế” và nâng cấp vai trò, vị thế của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế lên một tầm cao mới. Đối ngoại, hội nhập quốc tế không chỉ là động lực phát triển quan trọng mà còn là phương thức hàng đầu để thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước. Quan điểm chỉ đạo mới đối với công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng tại Đại hội XIV phản ánh sự ghi nhận và tin tưởng ngày càng cao của Đảng với những đóng góp, vai trò ngày càng quan trọng của đối ngoại, hội nhập quốc tế trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tranh thủ các nguồn lực, điều kiện bên ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến nay. Việc xác lập đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên cho phép nâng cao vai trò của Bộ Ngoại giao và những cơ quan làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế khác ở Trung ương và địa phương.
Cơ chế “ba trụ cột” Quốc phòng-An ninh-Đối ngoại sẽ thúc đẩy hợp tác liên ngành, tăng cường cán bộ chuyên trách, xây dựng đội ngũ chuyên gia ngoại giao kinh tế, văn hóa, công nghệ, kỹ thuật... nhằm chủ động khai thác cơ hội, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức. Quan điểm chỉ đạo này là cơ sở để tạo lập các phương thức ngoại giao, như: “ngoại giao kinh tế”, “ngoại giao văn hóa”, “đối ngoại quốc phòng, an ninh”, “ngoại giao công nghệ”... để thu hút vốn, công nghệ, nguồn lực quốc tế và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Như vậy, từ thực tiễn phong phú lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay, nhất là qua 40 năm đổi mới, nhận thức tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một quá trình sáng tạo, bền bỉ để từng bước hình thành và phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; đồng thời, góp phần bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Bối cảnh mới và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới sẽ đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để tiếp tục hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
---------------------------------------------
(3) Quan điểm chỉ đạo thứ hai của Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV viết: Nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng, tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.
(4) Bộ tứ trụ cột gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Ngoài ra, Đảng ta cũng đã ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế nhà nước, về phát triển văn hóa Việt Nam...











