Tìm nguồn nước để Tây Nguyên hết khát vào mùa khô

Việc tìm kiếm nguồn nước ổn định là yếu tố then chốt để công trình cấp nước sau đầu tư không rơi vào tình trạng “có nước mùa mưa, thiếu nước mùa khô” ở khu vực Tây Nguyên.

Lời tòa soạn

Nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của mỗi gia đình, nhưng tại nhiều vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những hạn chế về điều kiện tự nhiên, hạ tầng và công tác quản lý, vận hành khiến bao năm nay, vào mùa khô, bài toán nước sinh hoạt vẫn luôn là nỗi lo thường trực.

Báo VietNamNet trân trọng gửi tới bạn đọc tuyến bài: “Giải ‘bài toán’ đưa nước sinh hoạt về miền núi”, phản ánh thực trạng, những khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và những vấn đề đặt ra từ thực tế, qua đó góp thêm góc nhìn về các giải pháp để người dân vùng miền núi được tiếp cận nguồn nước sạch, ổn định và bền vững.

Bài 1: Tìm nước giữa điệp trùng cao nguyên đá

Bài 2: Công trình tiền tỷ, người dân miền núi vẫn 'khát' nước

Việc giải quyết nước sinh hoạt ổn định, bền vững cho vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên cần được thực hiện khoa học, có chiến lược. Ảnh: Ngọc Chí

Việc giải quyết nước sinh hoạt ổn định, bền vững cho vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên cần được thực hiện khoa học, có chiến lược. Ảnh: Ngọc Chí

Lo chất lượng nguồn nước

Thôn Krong Đuân, xã đặc biệt khó khăn Đăk Pxi, tỉnh Quảng Ngãi từng được đầu tư công trình nước tự chảy phục vụ hơn 260 hộ đồng bào Xơ Đăng.

Sau nhiều năm sử dụng, công trình đã xuống cấp. Dòng chảy tại khe suối thay đổi, lượng nước dẫn về ngày càng ít, không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân, nhất là vào mùa khô.

Do công trình nước tự chảy đầu tư đã lâu, xuống cấp, người dân thôn Krong Đuân thường thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Ảnh: Ngọc Chí

Do công trình nước tự chảy đầu tư đã lâu, xuống cấp, người dân thôn Krong Đuân thường thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Ảnh: Ngọc Chí

Chị Y Chính, người dân thôn Krong Đuân, cho biết vào mùa khô, gia đình gần như không có nước. Nước tắm giặt phải lấy từ mương thủy lợi chạy dọc ruộng lúa; nước uống và nấu ăn phải xin từ những hộ có giếng.

“Mỗi ngày tôi phải đi xin nước 4-5 lần mới đủ dùng. Gia đình đã đào giếng ở nhiều vị trí nhưng đều gặp đá. Muốn khoan giếng thì chi phí lớn, gia đình không đủ khả năng”, chị Y Chính nói.

Không chỉ thiếu nước, người dân còn lo về chất lượng nguồn nước đang sử dụng. Khu vực đầu nguồn có nhiều hộ canh tác nương rẫy, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tiềm ẩn nguy cơ hóa chất ngấm xuống đất rồi theo dòng nước về khu dân cư.

Vào mùa khô, nhiều hộ đồng bào DTTS ở thôn Krong Đuân phải đi xin nước về tích trữ, sử dụng. Ảnh: Ngọc Chí

Vào mùa khô, nhiều hộ đồng bào DTTS ở thôn Krong Đuân phải đi xin nước về tích trữ, sử dụng. Ảnh: Ngọc Chí

Theo ông A Xim, Trưởng thôn Krong Đuân, hiện thôn chưa có hệ thống nước sạch tập trung, hơn 50 hộ thường xuyên thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Công trình cũ lấy nước trực tiếp từ khe suối nên cũng tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn nguồn nước.

Công trình xuống cấp, công nghệ lạc hậu

Không chỉ các công trình nước tự chảy gặp khó, tại Quảng Ngãi hiện vẫn còn những hệ thống cấp nước tập trung được đầu tư từ nhiều năm trước, đã xuống cấp và sử dụng công nghệ xử lý lạc hậu nhưng vẫn phải duy trì vận hành.

Điển hình là hệ thống cấp nước tại xã Đăk Rve, được đầu tư từ năm 1997. Nước được dẫn từ suối thượng nguồn về bể lọc, xử lý rồi cung cấp cho khoảng 4.000 hộ dân có thu phí.

Sau gần 30 năm hoạt động, công trình xuống cấp nghiêm trọng. Nước thường xuyên bị đục, đặc biệt sau những trận mưa lớn.

Công trình cấp nước tại xã Đăk Rve được đầu tư từ năm 1997, hiện đã xuống cấp. Ảnh: Ngọc Chí

Công trình cấp nước tại xã Đăk Rve được đầu tư từ năm 1997, hiện đã xuống cấp. Ảnh: Ngọc Chí

Bà Lưu Thị Thùy Phi, người dân Thôn 1, xã Đăk Rve, cho biết gia đình phải tự mua thêm thiết bị lọc sơ bộ vì lo ngại chất lượng nước ảnh hưởng sức khỏe.

“Người dân mong Nhà nước sớm đầu tư hệ thống nước sạch mới để có nguồn nước bảo đảm hơn”, bà Phi nói.

Đơn vị vận hành đã nhiều lần tăng cường lắng lọc, vệ sinh bể chứa nhưng tình trạng nước đục vẫn tái diễn, nhất là sau mưa lớn.

Ông Lê Duy Mạnh, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Dịch vụ công ích xã Đăk Rve, cho biết nước lấy từ thượng nguồn nên khi mưa lớn, đất đá bị cuốn xuống làm tăng độ đục. Trong khi đó, công trình đã quá cũ nên khả năng xử lý không còn hiệu quả.

UBND xã Đăk Rve đã kiến nghị tỉnh Quảng Ngãi đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt mới.

Tìm nguồn nước bền vững trước khi xây công trình

Tây Nguyên được đánh giá có tiềm năng tài nguyên nước lớn nhưng vẫn thường xuyên đối mặt với hạn hán, ô nhiễm và suy giảm nguồn nước ngầm.

Một trong những nguyên nhân chính là nguồn nước phân bố rất không đều theo mùa. Khoảng 80-90% lượng mưa và dòng chảy tập trung trong 6 tháng mùa mưa, trong khi 6 tháng mùa khô chỉ chiếm khoảng 10-15% lượng nước cả năm.

Vì vậy, nghịch lý “thừa nước mùa mưa, thiếu nước mùa khô” vẫn diễn ra tại nhiều khu vực.

Đây cũng là nguyên nhân khiến không ít công trình nước tự chảy được đầu tư cho vùng đồng bào DTTS chỉ hoạt động hiệu quả trong mùa mưa nhưng thiếu nước khi mùa khô kéo dài.

Từ nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều công trình cấp nước sinh hoạt đã được đầu tư cho vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên. Ảnh: Ngọc Chí

Từ nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều công trình cấp nước sinh hoạt đã được đầu tư cho vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên. Ảnh: Ngọc Chí

Ông Phan Văn Cường, Chủ tịch UBND xã Đăk Pxi, cho biết hệ thống dẫn nước từ khe suối phục vụ hơn 260 hộ dân thôn Krong Đuân từng phát huy hiệu quả trong nhiều năm. Tuy nhiên, hiện công trình đã xuống cấp, trong khi nguồn nước cũng suy giảm.

“Thiếu nước vào mùa khô hiện không chỉ xảy ra ở Krong Đuân mà còn xuất hiện cục bộ tại một số khu vực khác”, ông Cường nói.

Bên cạnh sự phân bố nguồn nước không đều trong năm, biến đổi khí hậu, suy giảm rừng đầu nguồn, khai thác nước ngầm phục vụ sản xuất nông nghiệp và ô nhiễm nguồn nước cũng đang tạo thêm áp lực đối với việc bảo đảm nước sinh hoạt.

Theo ông Phan Chí Thiện, Chủ tịch UBND xã Ya Ly, việc đầu tư các công trình cấp nước cho vùng đồng bào DTTS trong thời gian tới cần tính toán ở quy mô lớn và bài bản hơn.

“Quan trọng nhất là khảo sát, xác định được nguồn nước bền vững. Có nguồn nước ổn định thì công trình sau đầu tư mới thực sự phát huy hiệu quả”, ông Thiện nói.

Đầu tư công trình cấp nước tại Tây Nguyên phải tính tới khả năng bảo đảm nguồn nước trong mùa khô. Ảnh: Ngọc Chí

Đầu tư công trình cấp nước tại Tây Nguyên phải tính tới khả năng bảo đảm nguồn nước trong mùa khô. Ảnh: Ngọc Chí

Thực tế cho thấy, bài toán cấp nước cho vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên không còn chỉ nằm ở việc xây thêm công trình.

Trước khi đầu tư, cần đánh giá kỹ trữ lượng, chất lượng và khả năng duy trì nguồn nước qua mùa khô; đồng thời lựa chọn công nghệ xử lý, mô hình vận hành phù hợp. Chỉ khi giải quyết được bài toán nguồn nước, các công trình mới có thể hoạt động ổn định, tránh lặp lại tình trạng đầu tư xong nhưng “có nước mùa mưa, thiếu nước mùa khô”.

Ngọc Chí

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/tim-nguon-nuoc-de-tay-nguyen-het-khat-vao-mua-kho-2559900.html