Tín dụng 'đi trước' mở lối chuyển đổi nông nghiệp xanh
Trước yêu cầu chuyển đổi sang nông nghiệp xanh và số, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, tín dụng cần đi trước một bước, đóng vai trò dẫn dắt thay vì chỉ hỗ trợ.
Tín dụng khu vực “tam nông” chiếm khoảng 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế
Sau nhiều năm triển khai, tài chính toàn diện tại Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, vượt nhiều mục tiêu trong Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025. Đáng chú ý, tín dụng khu vực “tam nông” hiện chiếm khoảng 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, cho thấy vai trò quan trọng của dòng vốn đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Tín dụng khu vực “tam nông” hiện chiếm khoảng 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Ảnh minh họa
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc mở rộng tài chính toàn diện tại khu vực nông thôn vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính cấu trúc. Hạ tầng số còn hạn chế, kỹ năng công nghệ của người dân chưa đồng đều khiến quá trình chuyển đổi số gặp khó khăn. Trong khi đó, tín dụng phi chính thức và tín dụng đen vẫn tồn tại ở nhiều địa bàn, làm gia tăng rủi ro cho người dân.
Một điểm nghẽn lớn khác là mô hình sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu liên kết với doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ. Việc cung cấp tín dụng riêng lẻ cho từng hộ sản xuất khó tạo ra hiệu quả bền vững nếu không gắn với chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, khoảng trống dữ liệu về thu nhập, lịch sử sản xuất, tín dụng cũng khiến các tổ chức tài chính gặp khó trong thẩm định và mở rộng cho vay.
Ngoài ra, tín dụng xanh dù đã được triển khai nhưng chưa đủ sức lan tỏa do thiếu cơ chế khuyến khích mạnh. Việc phát triển tài chính toàn diện cũng chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan.
Tại hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh”, ông Nguyễn Văn Long, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty CP Nhật Long cho rằng, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị là xu hướng tất yếu của nông nghiệp hiện đại, song điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là tiếp cận vốn.
Theo ông Long, tín dụng theo chuỗi giá trị là hình thức cấp vốn dựa trên sự liên kết giữa các khâu từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ. Thay vì cho vay riêng lẻ từng hộ, ngân hàng đánh giá tổng thể toàn chuỗi để kiểm soát rủi ro và khả năng hoàn trả.
Trong mô hình này, doanh nghiệp đóng vai trò “hạt nhân”, kết nối nông dân, hợp tác xã và các đối tác thông qua hợp đồng sản xuất – tiêu thụ. Khi có đầu vào và đầu ra rõ ràng, ngân hàng có cơ sở đánh giá tính khả thi của phương án, từ đó mở rộng tín dụng thuận lợi hơn.
“Vốn theo chuỗi giúp doanh nghiệp đầu tư đồng bộ từ giống, vật tư, công nghệ sản xuất đến chế biến và logistics – những khâu có chi phí lớn và chu kỳ dài”, ông Long nhấn mạnh. Đồng thời, mô hình này còn giúp nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn thị trường, đặc biệt là xuất khẩu.
Dù vậy, tín dụng theo chuỗi cũng đặt ra không ít thách thức. Yêu cầu đầu tiên là năng lực quản trị của doanh nghiệp. Việc tổ chức sản xuất, quản lý hợp đồng, kiểm soát rủi ro và dòng tiền trong toàn chuỗi đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao. “Chỉ cần một mắt xích gặp sự cố, toàn bộ chuỗi có thể bị ảnh hưởng, kéo theo rủi ro tín dụng”, ông Long cảnh báo.
Thực tế cũng cho thấy, tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn diễn ra khi giá thị trường biến động, làm suy giảm niềm tin giữa các bên. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào thị trường đầu ra khiến doanh nghiệp đối mặt rủi ro kép khi vừa phải bao tiêu sản phẩm, vừa chịu áp lực biến động giá.
Tại Đồng Tháp, một trong những trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn của cả nước, mô hình tín dụng theo chuỗi đã bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Theo đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, thay vì giải ngân cho hàng trăm hộ nhỏ lẻ, ngân hàng có thể cấp vốn thông qua doanh nghiệp đầu tàu, từ đó tối ưu hóa dòng vốn và nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả bền vững, yếu tố then chốt là kỷ luật hợp đồng. “Sự tin tưởng là cần thiết, nhưng phải có cơ chế pháp lý đủ mạnh để xử lý vi phạm, bảo đảm các bên tuân thủ cam kết”, ông Hòa nhấn mạnh.
Hoàn thiện pháp lý, dữ liệu để tín dụng dẫn dắt chuyển đổi
Ở góc độ chính sách, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long Thạch Phước Bình cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, tín dụng phải đóng vai trò dẫn dắt quá trình chuyển đổi nông nghiệp, thay vì chỉ là công cụ hỗ trợ.
Theo ông Bình, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về liên kết chuỗi, đồng thời chuyển mạnh sang quản trị tín dụng dựa trên dữ liệu. Việc áp dụng truy xuất nguồn gốc và nhật ký sản xuất điện tử sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, tạo cơ sở để tổ chức tín dụng đánh giá rủi ro chính xác hơn, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
Một giải pháp quan trọng khác là gắn tín dụng với bảo hiểm nông nghiệp nhằm chia sẻ rủi ro, nhất là trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh ngày càng phức tạp. Việc hỗ trợ phí bảo hiểm từ ngân sách được xem là động lực để khuyến khích các chủ thể tham gia và nâng cao tính bền vững của chuỗi giá trị.
Các chuyên gia nhận định, để tín dụng theo chuỗi phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Doanh nghiệp phải nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính; ngân hàng cần đổi mới phương thức thẩm định và thiết kế sản phẩm phù hợp với đặc thù nông nghiệp; trong khi Nhà nước cần hoàn thiện thể chế và cơ chế hỗ trợ rủi ro.
Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng xanh, số và bền vững, việc để tín dụng “đi trước” sẽ giúp tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, tạo lực đẩy tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị. Khi dòng vốn được định hướng đúng, nông nghiệp sẽ tăng trưởng cả về sản lượng, giá trị gia tăng, qua đó cải thiện thu nhập cho nông dân và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng cao và nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, việc hoàn thiện chính sách, xem xét các giải pháp đột phá về thể chế để tín dụng "đi trước một bước" sẽ góp phần thúc đẩy nông nghiệp chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.











